Home / Event / Lectio Divina: Chúa Nhật Lễ Lá (B)

Lectio Divina: Chúa Nhật Lễ Lá (B)

Chủ Nhật 25 Tháng Ba, 2018

|

Bài Thương Khó và cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu theo thánh Máccô

Thất bại cuối cùng như một lời mời gọi mới

Mc 14:1-16:8

 

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau.  Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của Chúa.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.

Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự việc của đời sống hằng ngày và trong những người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con, để giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ được hưởng sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con của Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.

 

2.  Cuộc Thương Khó và Khổ Nạn của Chúa Giêsu theo thánh Máccô

 

a) Chìa khóa dẫn đến bài đọc:

Nói chung, khi chúng ta đọc bài thương khó và cuộc khổ nạn, chúng ta nhìn vào Chúa Giêsu và sự đau khổ mà Người phải gánh chịu. Nhưng điều ấy thật là giá trị, ít ra là một lần, nếu chúng ta cũng nhìn vào các môn đệ và thấy họ đã phản ứng với cây thập giá ra sao và cây thập giá đã ảnh hưởng đến đời sống của họ như thế nào, bởi vì cây thập giá là thước đo cho sự so sánh!

Thánh sử Máccô viết cho các cộng đoàn vào những năm của thập niên 70. Nhiều người trong số các cộng đoàn này, cho dù ở Ý hay ở Syria, đang trải qua cuộc thương khó của chính họ. Họ đã phải đối mặt với cây thập giá theo nhiều cách. Họ đã bị bách hại trong triều đại hoàng đế Nêrô vào những năm 60 và nhiều người đã chết vì bị dã thú phanh thây ăn thịt. Những người khác thì đã phản bội, đã từ chối hoặc chối bỏ đức tin của họ vào Chúa Giêsu, giống như Phêrô, Giuđa và các môn đệ khác. Nhiều người đã tự hỏi: “Liệu tôi có thể chịu nổi sự đàn áp không?” Còn những kẻ khác đã mệt mỏi sau khi kiên trì trải qua nhiều lần bị xét xử mà không có kết quả. Trong số những người đã từ bỏ đức tin của họ, có người tự hỏi có thể nào họ tái gia nhập cộng đoàn được không. Họ muốn bắt đầu lại cuộc hành trình của họ lần nữa, nhưng không biết có thể tham gia lại được không. Một cành cây bị cắt đi mà không có rễ! Tất cả họ đều cần lý do mới và vững chắc để tái khởi động cuộc hành trình của họ. Họ cần một kinh nghiệm đổi mới về tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu đã vượt qua những lỗi lầm phàm nhân của họ. Họ có thể tìm thấy điều này ở đâu?

Đối với họ, cũng như đối với chúng ta, câu trả lời ở trong các chương 14 đến 16 của Tin Mừng Máccô, trong đó kể lại cuộc thương khó, khổ nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu, thời gian của sự thất bại lớn nhất của các môn đệ, và trong ẩn cách, chính là niềm hy vọng lớn nhất của họ. Chúng ta hãy nhìn vào tấm gương của những chương này để thấy các môn đệ đã phản ứng với cây Thập Giá như thế nào và Chúa Giêsu phản ứng với sự bội phản và nhu nhược của các môn đệ ra sao. Chúng ta hãy cố gắng khám phá ra bằng cách nào mà Máccô đã khuyến khích đức tin của cộng đoàn và cách ông mô tả ai là người môn đệ thực sự của Chúa Giêsu.

 

b) Nhìn vào tấm gương cuộc Thương Khó để biết cách làm một môn đệ trung thành

* Mc 14:1-9: Lời giới thiệu về câu chuyện cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu

 

1 Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Tuần Lễ ăn Bánh Không Men, các thượng tế và luật sĩ tìm mưu bắt giết Chúa Giêsu. 2 Họ bảo nhau rằng: “Đừng làm trong ngày lễ, kẻo sinh náo động trong dân”. 3 Khi Chúa đang dùng cơm ở Bêtania trong nhà ông Simon tật phong, thì có một người phụ nữ mang đến một bình ngọc đựng dầu thơm rất quý giá. Đập vỡ bình, bà đổ dầu thơm trên đầu Người. 4 Có mấy người khó chịu nghĩ thầm rằng: Làm gì mà phí dầu thơm như vậy? 5 Dầu này có thể bán được hơn ba trăm đồng bạc để bố thí cho kẻ nghèo khó. Và họ nặng lời với bà đó. 6 Nhưng Chúa Giêsu bảo: “Hãy để mặc bà, sao các ông lại làm cực lòng bà? Bà vừa làm cho Ta một việc rất tốt. 7 Vì bao giờ các ông cũng có những kẻ nghèo ở bên mình, và các ông có thể làm phúc cho họ lúc nào tùy ý, nhưng Ta, các ông không có Ta ở luôn với đâu. 8 Làm được gì thì bà đã làm, bà đã xức dầu thơm có ý tẩm liệm xác Ta trước. 9 Ta bảo thật các ông: Trong khắp thế giới, Phúc âm này rao giảng đến đâu thì người ta cũng sẽ thuật lại việc bà mới làm để nhớ bà”.

 

   Mc 14:1-2: Mưu kế chống lại Chúa Giêsu.

Khi kết thúc hoạt động rao giảng của mình, Chúa Giêsu đi đến Giêrusalem và đang được chờ đợi bởi các kẻ nắm giữ quyền lực trong tay: các Thượng Tế, Kỳ Lão, Kinh Sư, Biệt Phái, Sađốc, người phái Hêrôđê và người La Mã. Họ kiểm soát tình hình… họ sẽ không để cho Chúa Giêsu, một nông dân thợ mộc từ trong miền quê Galilêa, gây rối loạn. Họ đã quyết định tìm cách giết Đức Giêsu (Mc 11:18; 12:12). Chúa Giêsu đã là người bị lên án. Giờ đây sẽ diễn ra điều mà chính Người đã báo trước với các môn đệ: “Con Người đã được định trước là sẽ bị xử tử” (xem Mc 8:31; 9:31; 10:33). Đây là bối cảnh cho câu chuyện về cuộc thương khó theo sau.

Câu chuyện cuộc thương khó sẽ cho thấy rằng người môn đệ thực sự chấp nhận đi theo Chúa Giêsu, Đấng Mêssia Tôi Tớ, và chấp nhận cống hiến cuộc đời mình cho sự phục vụ các anh chị em của họ, phải vác thập giá mình mà theo Đức Giêsu. Nếu câu chuyện cuộc thương khó nhấn mạnh đến sự thất bại và tiêu tan hy vọng, điều này không phải là để làm ngã lòng các độc giả. Trái lại, nó được dùng để nhấn mạnh rằng việc mở rộng vòng tay và lòng yêu thương của Chúa Giêsu thì mạnh mẽ hơn sự thất bại và tiêu tan hy vọng của các môn đệ!

 

   Mc 14:3-9: Người môn đệ trung thành.

Một người phụ nữ mà tên của bà không thấy nhắc đến, xức cho Chúa Giêsu với bình dầu thơm nguyên chất đắt tiền (Mc 14:3). Các môn đệ chỉ trích cử chỉ này. Họ cho rằng đó là một việc phí phạm (Mc 14:4-5). Nhưng Chúa Giêsu đã biện hộ cho bà: “Tại sao các ông lại làm cực lòng bà ấy? Bà vừa làm cho Ta một việc rất tốt… bà đã xức dầu thơm có ý tẩm liệm xác Ta trước” (Mc 14:6-8). Vào thời đó, những ai chết vì bị đóng đinh thì không được chôn cũng không được tẩm liệm. Biết được điều này, người phụ nữ đã dự đoán và xức dầu tẩm liệm cho Chúa Giêsu trước khi có bản án tử hình và việc đóng đinh của Người. Cử chỉ này cho thấy rằng bà đã chấp nhận Đức Giêsu là Đấng Mêssia Tôi Tớ, Đấng sẽ chết trên cây thập giá. Chúa Giêsu hiểu được cử chỉ của người phụ nữ và tán thành điều này. Trước đó, Phêrô đã bác bỏ ý kiến về một Đấng Cứu Thế Bị Đóng Đinh (Mc 8:32). Người phụ nữ vô danh này là người môn đệ trung thành, một khuôn mẫu cho các môn đệ của Người là những người đã không hiểu gì. Đây là một mẫu mực cho tất cả mọi người, “khắp cùng cõi trái đất” (Mc 14:9).

 

* Mc 14:10-31: Thái độ của các môn đệ về cây Thập Giá

 

10 Khi ấy, Giuđa Iscariốt, một trong nhóm Mười Hai, đến tìm các thượng tế để tình nguyện nộp Người cho họ. 11 Nghe vậy, họ mừng rỡ và họ liền hứa cho nó tiền. Và nó tìm dịp tiện nộp Người. 12 Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn bánh không men là ngày giết chiên mừng Lễ Vượt Qua, các môn đệ thưa Người: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua tại đâu?” 13 Người liền sai hai môn đệ đi và dặn rằng: “Các con hãy vào thành, và nếu gặp một người mang vò nước thì hãy đi theo người đó. 14 Hễ người ấy vào nhà nào thì các con hãy nói với chủ nhà rằng: Thầy sai chúng tôi hỏi: Căn phòng Ta sẽ ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu? 15 Và chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng và các con hãy sửa soạn cho chúng ta ở đó”. 16 Hai môn đệ ra đi vào thành và thấy mọi sự như Người đã bảo, và hai ông dọn Lễ Vượt Qua.

17 Chiều đến, Người cùng Mười Hai môn đệ tới. 18 Và khi mọi người đang ngồi ăn, thì Chúa Giêsu nói: “Ta bảo thật các con, một trong các con đang ăn cùng Ta, sẽ nộp Ta”. 19 Các ông đều buồn rầu và lần lượt từng người thưa Ngài: “Thưa Thầy, có phải con không?” 20 Người đáp: “Là một trong mười hai, kẻ cùng chấm một đĩa với Thầy. 21 Con Người phải ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người. Thà nó đừng sinh ra thì hơn”. 22 Đang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: “Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta”. 23 Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. 24 Và Người bảo các ông: “Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người. 25 Ta bảo thật các con: Ta sẽ chẳng còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Ta sẽ uống rượu mới trong nước Thiên Chúa”. 26 Sau khi hát Thánh Vịnh, Thầy trò đi lên núi Cây Dầu. 27 Chúa Giêsu bảo các ông: “Đêm nay, tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy, vì có lời chép rằng: ta sẽ đánh chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác.

28 Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con”. 29 Phêrô thưa Người: “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, nhưng con thì không”. 30 Chúa Giêsu bảo ông: “Thầy bảo thật con: Hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Thầy ba lần”. 31 Nhưng Phêrô càng lên giọng cương quyết hơn mà rằng: “Không, dầu phải chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy”. Và tất cả đều nói như vậy.

 

    Mc 14:10-11: Giuđa quyết định phản bội Chúa Giêsu.

Trong sự tương phản hoàn toàn đối với người phụ nữ, Giuđa, một trong Nhóm Mười Hai môn đệ, quyết định phản bội Chúa Giêsu và âm mưu với kẻ thù là những kẻ hứa hẹn cho anh ta tiền. Giuđa đã tiếp tục sống với Chúa Giêsu, với mục tiêu duy nhất là tìm cơ hội để nộp Người. Khi Máccô đang viết quyển Tin Mừng của ông, có các môn đệ đang trông chờ lúc chính đáng để rời khỏi cộng đoàn vì đó là nguyên do mà họ bị đàn áp. Hoặc có lẽ, họ đang trông chờ thời cơ thuận lợi để giao nộp các bạn đồng hành của họ. Và chúng ta ngày nay thì sao?

 

   Mc 14:12-16: Việc chuẩn bị mừng Lễ Vượt Qua.

Chúa Giêsu biết rằng Người sẽ bị phản bội. Tuy nhiên, bất chấp sự phản bội bởi một người bạn, Chúa vẫn tổ chức bữa tiệc mừng Lễ Vượt Qua trong tình huynh đệ với các môn đệ của Người. Có lẽ Chúa đã phải chi rất nhiều tiền cho phòng tiệc, “một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng” (Mc 14:15), bởi vì đây là buổi tối trước Lễ Vượt Qua. Thành phố đã chật ních những người bởi vì ngày lễ hội. Khó mà tìm và đặt được một chỗ để ăn mừng.

 

   Mc 14:17-21: Lời loan báo về sự phản bội của Giuđa.

Tụ họp với nhau lần cuối, Chúa Giêsu loan báo rằng một trong các môn đệ sẽ phản bội Người: “một trong các con đang ăn cùng ta!” (Mc 14:18). Cách nói này của Máccô nhấn mạnh sự tương phản. Đối với người Do Thái, cùng nhau ăn uống, ngồi chung bàn, là biểu hiện của sự thân mật và tin tưởng nhất. Vì thế, trong ba dòng, Máccô đã chuyển tải sứ điệp sau đây đến độc giả của mình: sự phản bội sẽ xảy ra do bàn tay của người bạn thân, nhưng tình yêu của Đức Giêsu thì cao cả hơn so với sự phản bội!

 

   Mc 14:22-25: Bí Tích Thánh Thể, việc cử hành Tiệc Lễ Vượt Qua.

Đang lúc tiệc mừng, Chúa Giêsu chia sẻ điều gì đó. Người chia sẻ bánh và rượu, một biểu lộ của sự cho đi chính bản thân Người và mời gọi các bằng hữu hãy nhận lấy mình và máu của Người. Tác giả Tin Mừng đã đặt cử chỉ cho đi này (Mc 14:22-25) ở giữa lời loan báo về sự phản bội (Mc 14:17-21) và việc bỏ chạy và phủ nhận (Mc 14:26-31). Vì vậy, ông nhấn mạnh sự tương phản giữa cử chỉ của Chúa Giêsu và của các môn đệ, ông nói lên cộng đoàn của ông thời ấy và cho tất cả chúng ta thấy tình yêu bao la của Đức Giêsu vượt qua khỏi sự phản bội, chối từ và tháo chạy của bạn bè của Người.

 

   Mc 14:26-28: Lời loan báo về sự chạy trốn của tất cả mọi người.

Sau bữa ăn tối, đang khi Người cùng với các môn đệ đi lên núi Cây Dầu, Chúa Giêsu loan báo rằng các ông sẽ bỏ rơi Người. Họ sẽ bỏ chạy và tan tác! Nhưng ngay sau đó Chúa nói: “Sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con!” (Mc 14:28) Các ông lìa bỏ Chúa, nhưng Đức Giêsu không lìa bỏ họ. Người tiếp tục chờ đợi các ông tại cùng một chỗ, trong xứ Galilêa, nơi mà ba năm trước đây lần đầu tiên Người đã gọi các ông. Điều chắc chắn về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống người môn đệ thì vững chắc hơn là sự từ bỏ hoặc tháo chạy! Người ta luôn luôn có thể quay trở lại.

 

   Mc 14:29-31: Lời loan báo về việc chối Thầy của Phêrô.

Ông Simon, được gọi là Kêpha (nghĩa là đá), có thể là bất cứ vật gì nhưng chẳng phải là đá. Ông đã là “vật cản đường” (Mt 16:23) và là Satan đối với Chúa Giêsu (Mc 8:33), và giờ đây ông làm ra vẻ là người môn đệ trung thành nhất trong tất cả: “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, nhưng con thì không!” (Mc 14:29). Nhưng Chúa Giêsu bảo ông: Phêrô, con sẽ là người đầu tiên chối Thầy, trước khi gà gáy sáng!

 

* Mc 14:32-52: Thái độ của các môn đệ trong Vườn Cây Dầu

 

32 Đi đến một vườn kia tên là Giệtsêmani, Người bảo các môn đệ: “Các con hãy ngồi lại đây trong khi Thầy đi cầu nguyện”. 33 Rồi Người đem Phêrô, Giacôbê và Gioan theo Người 34 và Người bắt đầu kinh sợ và buồn sầu. Người liền bảo các ông: “Linh hồn Thầy buồn đến chết được, các con hãy ở lại đây và tỉnh thức”. 35 Tiến xa hơn một chút, Người phục xuống đất và cầu xin nếu có thể được thì xin cho qua khỏi giờ này. Và Người nguyện rằng: 36 “Abba, Lạy Cha, Cha có thể làm được mọi sự, xin cất chén này khỏi con! Nhưng không theo ý con muốn, một theo ý Cha”. 37 Người trở lại và thấy các ông đang ngủ, nên nói với Phêrô: “Simon, con ngủ ư? Con không có sức thức được một giờ sao? 38 Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì lanh lẹ, còn xác thịt thì yếu đuối”. 39 Rồi Người đi khỏi đó và cầu nguyện cùng lời như trước. 40 Khi trở lại lần nữa và thấy các ông còn ngủ (vì mắt các ông nặng trĩu) và các ông không còn biết thưa Người làm sao. 41 Lần thứ ba, Người trở lại và bảo: “Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi. Thế là xong! Giờ đã đến: Này Con Người sắp bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. 42 Thôi! hãy chỗi dậy, chúng ta đi, kẻ nộp Thầy đã tới nơi”. 43 Người còn đang nói, thì Giuđa Iscariốt, một trong nhóm Mười Hai đến, cùng đi với một toán đông mang gươm giáo và gậy góc do các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão sai đến. 44 Trước đó, tên phản bội đã ra hiệu cho chúng rằng: “Hễ tôi hôn mặt ai, thì đó chính là Ngài, các ông cứ bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận”. 45 Vừa đến, nó liền tới gần Người mà nói: “Chào Thầy”. Và nó hôn Người. 46 Và chúng tra tay bắt Người. 47 Nhưng một người trong những kẻ đứng xung quanh rút gươm chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. 48 Chúa Giêsu nói với chúng rằng: “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp! 49 Hằng ngày, Ta ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ mà sao các ngươi không bắt Ta. Nhưng thế là để ứng nghiệm lời Kinh Thánh”. 50 Bấy giờ môn đệ bỏ Người và trốn đi hết. 51 Có một thanh niên theo Người, mình chỉ quấn một tấm khăn, họ túm lấy anh ta, 52 nhưng anh ta bỏ tấm khăn lại và chạy trốn mình trần.

 

   Mc 14:32-42: Thái độ của các môn đệ trong cơn buồn sầu của Chúa Giêsu.

Trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu bắt đầu cơn buồn sầu của mình và bảo các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan cầu nguyện cho Người. Người buồn bã và bắt đầu kinh sợ. Người tìm kiếm sự hỗ trợ nơi các bạn hữu của mình. Nhưng họ lại mê ngủ. Các ông không thể thức được một giờ với Chúa. Và đều cả ba lần! Một lần nữa, chúng ta thấy sự tương phản lớn lao giữa thái độ của Chúa Giêsu và của ba môn đệ! Tại Vườn Cây Dầu này và tại thời điểm buồn sầu của Chúa Giêsu mà lòng can đảm của các môn đệ đã tan rã. Chẳng còn lại gì!

 

   Mc 14:43-52: Thái độ của các môn đệ khi Chúa Giêsu bị bắt.

Khi màn đêm buông xuống, các quân lính được dẫn đầu bởi Giuđa đi đến. Nụ hôn, một dấu hiệu của tình bạn và tình yêu, trở thành dấu hiệu của sự phản bội. Giuđa đã thiếu can đảm để đối diện với sự phản bội của mình. Hắn ta trốn nó! Trong khi bị bắt, Chúa Giêsu vẫn giữ được sự bình tĩnh, Người làm chủ tình hình. Người cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của những gì đang xảy ra: “Như thế là để ứng nghiệm lời Kinh Thánh!” (Mc 14:49) Nhưng tất cả các môn đệ đều bỏ Người và trốn đi hết (Mc 14:50). Chả có ai ở lại. Chúa Giêsu trơ trọi một mình!

 

* Mc 14:53-15:20: Cuộc luận án: những quan niệm mâu thuẫn khác biệt nhau về Đấng Cứu Thế.

 

53 Chúng điệu Chúa Giêsu đến thầy thượng tế, các tư tế, luật sĩ và kỳ lão hội lại đông đủ. 54 Còn Phêrô theo Người xa xa đến tận trong dinh thượng tế và ngồi sưởi lửa với đám đầy tớ. 55 Vậy các thầy thượng tế và toàn thể Công Nghị tìm một chứng cáo Chúa Giêsu để giết Người, song họ không tìm ra. 56 Có nhiều kẻ đã cáo gian Người, nhưng các chứng đó không hợp nhau. 57 Tuy nhiên có nhiều kẻ đứng lên làm chứng gian cho Người rằng: 58 “Chúng tôi đã nghe nó nói: Ta sẽ phá huỷ đền thờ này do tay loài người làm ra, và trong ba ngày, Ta sẽ xây lại một đền thờ khác không bởi tay loài người làm ra”. 59 Nhưng chứng cớ của họ cũng không hợp nhau. 60 Khi ấy, thầy thượng tế đứng lên giữa công nghị hỏi Chúa Giêsu rằng: “Sao ông không trả lời gì về những điều các người này tố cáo ông”. 61 Nhưng Người vẫn thinh lặng và không đáp lại gì. Thầy thượng tế lại hỏi: “Ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa đáng chúc tụng chăng?” 62 Chúa Giêsu đáp: “Phải, chính Ta! Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Đấng toàn năng và ngự đến trên đám mây”. 63 Thầy thượng tế liền xé áo mình ra và nói: “Chúng ta còn cần chi đến nhân chứng nữa? 64 Các ông đã nghe lời nói lộng ngôn, các ông nghĩ sao” Ai nấy đều lên án Người đáng chết. 65 Rồi có kẻ bắt đầu nhổ vào Người, che mặt Người và đánh đấm Người mà rằng: “Hãy đoán xem!” Và bọn thủ hạ vả mặt Người.

66 Phêrô đang ở ngoài sân tiền đường, thì có một đầy tớ gái của thầy thượng tế đến, 67 thấy Phêrô đang sưởi, thì nhìn ông và nói: “Ông cũng theo Giêsu, người Nagiarét”. 68 Nhưng ông chối phắt mà rằng: “Tôi không biết, tôi không hiểu cô muốn nói gì”. Rồi ông đi ra ngoài phía trước tiền đường, và gà liền gáy. 69 Lần nữa người đầy tớ thấy ông, liền nói với những người xung quanh rằng: “Ông này thuộc bọn đó”. 70 Nhưng ông lại chối. Một lúc sau, những người ở đó lại nói với Phêrô rằng: “Đúng ông thuộc bọn đó, vì cả ông cũng là người Galilêa”. 71 Ông liền nguyền rủa nặng lời và thề rằng: “Tôi không biết người mà các ông nói đó”. 72 Tức thì gà gáy lần thứ hai. Và Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã bảo ông: “Trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Ta ba lần”. Và ông liền than khóc.

15:1 Vừa tảng sáng, các thượng tế hội nghị với các kỳ lão, luật sĩ và toàn thể Công Nghị. Họ đã trói Chúa Giêsu và giải nạp Người cho Philatô. 2 Philatô hỏi Người: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Chúa Giêsu đáp: “Ông nói đúng!” 3 Và các thầy thượng tế cáo Người nhiều điều. 4 Philatô lại hỏi Người rằng: “Ông không trả lời gì ư? Hãy coi họ tố cáo Ông biết bao nhiêu điều!” 5 Nhưng Chúa Giêsu không trả lời gì thêm, khiến Philatô ngạc nhiên. 6 Vào mỗi dịp lễ, quan có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. 7 Bấy giờ trong khám có tên Baraba bị giam cùng với những kẻ phiến loạn, vì chúng đã giết người trong cuộc khởi loạn. 8 Dân chúng tiến lên Philatô xin ân xá theo như quan quen làm. 9 Vậy Philatô hỏi: “Các ngươi có muốn ta phóng thích cho các ngươi Vua dân Do-thái không?” 10 Vì quan đã biết rõ do lòng ghen tương mà các thượng tế nộp Người. 11 Nhưng dân xin quan phóng thích Baraba cho họ. 12 Philatô bảo dân chúng rằng: “Các ngươi muốn Ta làm gì cho vua dân Do-thái?” 13 Nhưng chúng lại kêu lên: “Đóng đinh nó đi!” 14 Philatô đáp lại: “Người này đã làm gì nên tội?” Song chúng càng la to hơn: “Đóng đinh nó đi!” 15 Sau cùng Philatô muốn vừa lòng dân, liền tha Baraba và trao Chúa Giêsu cho chúng đánh đòn và đóng đinh vào thập giá. 16 Quân lính điệu Người vào sân tiền đường và tập họp cơ đội lại. 17 Chúng mặc áo choàng đỏ cho Người, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người. 18 Đoạn chào Người rằng: “Tâu Vua dân Do-thái”. 19 Rồi chúng lấy cây sậy đánh đầu Người, khạc nhổ vào Người và quỳ gối triều bái Người. 20 Khi đã nhạo cười Người, chúng lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục lại cho Người và chúng điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

 

   Mc 14:53-65: Chúa Giêsu bị kết án bởi Tòa Tối Cao

Chúa Giêsu bị dẫn ra trước tòa án của các thầy Thượng Tế, Kỳ Lão và Luật Sĩ, gọi là Công Nghị. Những lời cáo gian đã buộc cho Người. Chúa vẫn giữ im lặng. Không có bất kỳ lời biện bạch nào, Người bị trao cho kẻ thù của mình. Vậy là Người đã ứng nghiệm những gì ngôn sứ Isaia đã nói về Đấng Cứu Thế Tôi Tớ, Đấng đã bị bắt làm tội nhân, bị luận tội và bị lên án như một con cừu, Người không hề mở miệng kêu ca (xem is 53:6-8). Khi bị tra vấn, Chúa Giêsu nhìn nhận sự thật Người là Đấng Cứu Thế: “Phải, chính Ta!” Nhưng Người xác nhận điều này dưới danh hiệu Con Thiên Chúa (Mk 14:62). Sau cùng, Người bị vả vào mặt bởi những kẻ chế nhạo Người gọi Người là Đấng Mêssia Tiên Tri (Mk 14:65).

 

   Mc 14:66-72: Lời chối của Phêrô.

Phêrô bị người tớ gái nhận mặt là một trong những người đã có mặt trong Vườn Cây Dầu. Phêrô phủ nhận điều này. Ông chối phắt việc ấy bằng lời nguyền rủa và thề thốt. Ngay cả lúc này ông không có khả năng chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Mêssia Tôi Tớ, Đấng đã thí mạng sống mình cho người khác. Nhưng khi gà gáy lần thứ hai, ông nhớ lại lời của Chúa Giêsu và bắt đầu than khóc. Đây là những gì xảy ra cho những kẻ gần gũi với mọi người nhưng đầu óc bị lẫn mất trong hệ thống tư tưởng của nhóm Hêrôđê và những người Biệt Phái. Đây có lẽ là tình trạng của nhiều người trong các cộng đoàn vào thời Máccô đang viết sách Tin Mừng của ông. Và còn chúng ta ngày nay thì sao?

 

   Mc 15:1-20: Chúa Giêsu bị kết án bởi quyền lực La Mã.

Cuộc xử án tiếp tục. Chúa Giêsu bị giải nạp cho nhà cầm quyền La Mã và bị cáo buộc là Đấng Mêssia Vua (Mc 15:2; Mc 15:25). Những người khác thì đề nghị để thay thế cho Baraba, “bị giam cùng với những kẻ phiến loạn” (Mc 15:7). Họ xem Chúa Giêsu như một Đấng Cứu Thế Anh Hùng chống lại đế quốc La Mã. Sau khi bị kết án, họ khạc nhổ vào mặt Chúa Giêsu, nhưng Người sẽ không mở miệng. Ở đây một lần nữa, chúng ta thấy Đấng Cứu Thế Tôi Tớ được công bố bởi ngôn sứ Isaia (xem Is 50:6-8).

 

* Mc 15:21-39: Trước cây Thập Giá của Chúa Giêsu trên đồi Canvê

21 Chúng gặp một người qua đường, tên là Simon, quê ở Xyrênê, là thân phụ của Alexanđrô và Rôphô vừa ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác đỡ thập giá cho Người. 22 Chúng điệu Người đến nơi kia gọi là Gôngôtha, nghĩa là Núi Sọ. 23 Chúng cho Người uống rượu pha mộc dược, nhưng Người không uống. 24 Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi chúng chia nhau áo Người bằng cách bắt thăm xem ai được phần nào. 25 Vào lúc giờ thứ ba, chúng đã đóng đinh Người vào thập giá. 26 Và có bản án ghi rằng: Vua dân Do Thái! 27 Và cùng với Người, chúng đóng đinh hai tên trộm cướp vào thập giá, một đứa bên hữu, một đứa bên tả Người. 28 Như vậy là ứng nghiệm lời Thánh Kinh rằng: Người đã bị liệt vào số những kẻ gian ác. 29 Những người qua đường sỉ nhục Người, lắc đầu và nói: “Kìa! Kẻ phá đền thờ Thiên Chúa và xây lại trong ba ngày: 30 hãy tự cứu mình xuống khỏi thập giá đi!” 31 Các thượng tế với các luật sĩ cũng nhạo báng Người và nói với nhau: “Nó đã cứu được những kẻ khác mà không tự cứu mình! 32 Bây giờ Đấng Kitô Vua Israel, hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta thấy mà tin nào!” Cả những kẻ cùng chịu đóng đinh với Người cũng lăng nhục Người. 33 Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, tối tăm bao trùm toàn thể lãnh thổ. 34 Và đến giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng: “Eloi, Eloi, lema sabachtani!” Nghĩa là: “Lạy Chúa con, lạy Chúa con, Tại sao Chúa bỏ con!” 35 Có mấy người đứng đó nghe thấy liền nói rằng: “Kìa, nó gọi Elia!” 36 Bấy giờ có kẻ chạy đi nhúng miếng bông biển đầy dấm và cuốn vào cây sậy và đưa lên cho Người uống mà rằng: “Hãy đợi xem Êlia có đến đem nó xuống không?” 37 Nhưng Chúa Giêsu kêu một tiếng lớn và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

38 Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới. 39 Viên sĩ quan đứng trước mặt Người thấy Người kêu lên và trút hơi thở như thế, liền nói rằng: “Đúng người này là Con Thiên Chúa!”

 

   Mc 15:21-22: Ông Simon vác đỡ thập giá.

Khi Chúa Giêsu đang bị điệu đi đến nơi đóng đinh vào thập giá, ông Simon quê ở Xyrênê, là một người cha trong gia đình, đã bị bắt vác đỡ Thập Giá. Simon là một môn đệ lý tưởng, ông đi theo con đường mà Chúa Giêsu đi. Theo nghĩa đen, ông vác thập giá đi theo chân Chúa Giêsu lên đồi Canvê

 

   Mc 15:23-32: Đóng đinh vào thập giá.

Chúa Giêsu bị đóng đinh như kẻ bị ức hiếp, ở giữa hai tên trộm. Một lần nữa, Tin Mừng của Máccô gợi nhớ lại hình ảnh của Đấng Cứu Thế Tôi Tớ, Đấng mà ngôn sứ Isaia đã nói: Người bị chôn cất giữa bọn ác ôn” (Is 53:9). Tội gán cho Người là “Vua dân Do Thái!” (Mc 15:25) Những kẻ có thẩm quyền tôn giáo nhạo báng và xúc phạm đến Chúa Giêsu và nói rằng: “hãy xuống khỏi thập giá ngay đi để chúng ta thấy mà tin nào!” (Mc 15:321). Họ cũng giống như Phêrô. Họ sẽ chỉ chấp nhận Chúa Kitô là Đấng Thiên Sai, nếu Người xuống khỏi cây thập giá. Như bài thánh vịnh viết rằng: “Họ chỉ muốn có một vị vua vĩ đại hùng dũng, thống trị, và vì điều này, họ đã không tin vào Ngài và đã giết Đấng Cứu Độ”.

 

   Mc 15:33-39: Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.

Bị tất cả mọi người bỏ rơi, Chúa Giêsu kêu lên một tiếng và trút hơi thở. Viên sĩ quan, một người dân ngoại, có nhiệm vụ canh gác, đã thốt lên một lời tuyên xưng đức tin long trọng: “Đúng người này là Con Thiên Chúa!” Một người dân ngoại đã khám phá ra và chấp nhận những gì các môn đệ đã không thể khám phá và chấp nhận, đó là trông thấy sự hiện diện của Con Thiên Chúa trong tấm hình hài bị tra tấn, loại trừ và bị đóng đinh này. Giống như người phụ nữ vô danh ở đầu của hai chương này (Mc 14:3-9), vì thế tại phần cuối xuất hiện một mẫu mực môn đệ khác, viên sĩ quan, một người dân ngoại!

 

* Mc 15:40-16:8: Tại ngôi mộ của Chúa Giêsu

 

40 Cũng có những phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Trong số có bà Maria Magđalêna, bà Maria mẹ của ông Giacôbê trẻ và của ông Giôsết, và bà Salômê, 41 là những kẻ đã theo giúp Người khi Người còn ở xứ Galilêa. Và nhiều người khác cũng đã lên Giêrusalem với Người. 42 Trời đã xế chiều và hôm đó lại là ngày chuẩn bị, áp ngày Sabbát. 43 Ông Giuse quê ở Arimathia, một hội viên vị vọng trong Công Nghị, cũng là người trông đợi Nước Thiên Chúa, ông mạnh dạn đến gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. 44 Philatô ngạc nhiên nghe nói Người đã chết, ông gọi viên sĩ quan đến và hỏi xem Người đã chết thật chưa. 45 Khi được viên sĩ quan phúc trình, quan trao xác Người cho Giuse. 46 Giuse đã mua một khăn trắng, hạ xác Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá, liệm vào khăn và đặt trong mộ đã đục sẵn trong đá, và lăn một tảng đá lấp cửa mồ. 47 Lúc đó bà Maria Magđalêna và Maria mẹ ông Giuse nhìn xem nơi Người được an táng.

 

16:1 Vừa hết ngày Sabbát, bà Maria Magđalêna với bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê, mua dầu thơm để đi ướp xác Chúa Giêsu. 2 Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ. 3 Các bà bảo nhau: “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm chúng ta đây?” 4 Nhưng vừa ngước mắt lên, các bà đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi, mà tảng đá ấy lớn lắm. 5 Vào trong mộ, các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng; các bà hoảng sợ. 6 Nhưng người thanh niên liền nói: “Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giêsu Nagiarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì? Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Người đây này! 7 Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phêrô rằng Người sẽ đến Galilêa trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông.” 8 Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai, vì sợ hãi.

 

   Mc 15:40-47: Táng xác Đức Chúa Giêsu.

Một nhóm các người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa: Maria Magđalêna, Maria mẹ của Giacôbê và bà Salômê. Họ đã không chạy trốn. Họ vẫn trung thành cho đến cùng. Các bà chứng kiến cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Từ nhóm nhỏ này mà lời công bố mới về Chúa Nhật Phục Sinh sẽ xảy đến. Các bà đi với ông Giuse quê ở Arimathia là người đã xin phép để chôn Chúa Giêsu. Sau đó, hai bà trong số họ, các bà Maria Magđalêna và Maria, ở gần ngôi mộ đã lấp. Họ cũng chứng kiến việc táng xác Chúa Giêsu.

 

   Mc 16:1-8: Công bố sự phục sinh

Ngày thứ nhất trong tuần, vào lúc sáng tinh sương, những người phụ nữ ấy cùng đi để ước xác Chúa Giêsu. Họ thấy ngôi mộ đã mở ra. Các bà là những nhân chứng của sự phục sinh. Một thiên thần nói với các bà rằng Chúa Giêsu đã sống lại và trao cho họ một mệnh lệnh: “đi và nói với các môn đệ Người và ông Phêrô rằng: ‘Người sẽ đến Galilêa trước các ông; ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông.’” (Mc 16:7). Trong miền Galilêa, trên bờ hồ, nơi mà tất cả mọi sự đã khởi xướng, ở đó tất cả mọi thứ cũng sẽ bắt đầu lại. Chúa Giêsu đã mời gọi! Người sẽ không bỏ cuộc, ngay cả khi đối mặt với việc các môn đệ từ bỏ Người! Người sẽ gọi lần nữa! Người luôn luôn gọi!

 

c) Sự thất bại cuối cùng như là lời kêu gọi mới trở thành môn đệ

Đây là câu chuyện về cuộc thương khó, khổ nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu được nhìn thấy từ quan điểm của các môn đệ. Số lần mà câu chuyện này nói về việc kém hiểu biết và thất bại của các môn đệ, có lẽ tương ứng nhất với một sự kiện lịch sử. Nhưng điểm quan tâm chính của tác giả Tin Mừng không phải là để kể lại những gì đã xảy ra trong quá khứ, mà ông muốn tác động một sự hoán cải trong các Kitô hữu của thời ấy và khơi dậy trong họ và trong chúng ta một niềm hy vọng mới, có khả năng khắc phục được sự nản lòng và cái chết. Có ba điều nổi bật và cần phải được suy nghĩ kỹ lưỡng:

i) Sự thất bại của những người được chọn: Nhóm Mười Hai là những người đã được Chúa Giêsu gọi và chọn cách đặc biệt (Mc 3:13-19) và được Người sai đi trong sứ vụ (Mc 16:7-13), đã thất bại. Thất bại hoàn toàn. Giuđa phản bội, Phêrô chối Thầy, tất cả đều bỏ chạy, không một ai ở lại. Tất cả phân tán! Dường như, không có sự khác biệt nhiều giữa họ và những kẻthẩm quyền đã quyết định về cái chết của Chúa Giêsu. Cũng giống như Phêrô, họ cũng muốn loại bỏ cây thập giá và muốn có một Đấng Cứu Thế vinh quang, một vì vua, Con Thiên Chúa được ơn phúc. Nhưng có một sự khác biệt thật sự và sâu xa! Mặc dù với tất cả những lỗi lầm và yếu kém của mình, các môn đệ đã không có dã tâm. Các ông không có bất kỳ một ý định xấu xa nào. Họ gần như là một bản sao trung thực của tất cả chúng ta là những kẻ đang đi trên con đường của Chúa Giêsu, mãi mãi vấp ngã nhưng lại luôn gượng dậy!

ii) Lòng trung thành của những người không được chọn: Là một đối trọng với sự thất bại của một số người, sức mạnh đức tin của những người khác đã được bày tỏ, những người không thuộc về nhóm Mười Hai môn đệ được chọn:

  1. Người phụ nữ vô danh từ Bêtania. Bà chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế Tôi Tớ và do đó, bà đã xức dầu cho Người trong dự đoán về việc chôn cất Người. Chúa Giêsu khen bà. Bà là một gương mẫu cho tất cả chúng ta.
  2. Ông Simon quê ở Xyrênê, một người cha trong gia đình. Ông đã bị các quân lính bắt buộc phải làm điều mà Chúa Giêsu đã yêu cầu Nhóm Mười Hai làm mà họ đã bỏ chạy. Ông vác cây thập giá đi theo chân Chúa Giêsu lên đồi Canvê.
  3. Viên sĩ quan, một dân ngoại. Vào lúc Chúa sinh thì, ông đã tuyên xưng đức tin của mình và nhận ra Con Thiên Chúa trong hình hài người đàn ông bị đánh đập và đóng đinh trên thập giá, người bị nguyền rủa chiếu theo luật Do Thái.
  4. Bà Maria Magđalêna, bà Maria mẹ của ông Giacôbê và bà Salômê, “và nhiều phụ nữ khác ở đó đã lên Giêrusalem cùng với Người (Mc 15:41). Họ đã không bỏ rơi Chúa Giêsu, nhưng kiên quyết ở lại dưới chân cây thập giá và gần mồ Chúa Giêsu.
  5. Ông Giuse quê ở Arimathia, một hội viên của Công Nghị, người đã mạo hiểm bằng mọi cách để xin xác Chúa Giêsu đem về mai táng. Nhóm Mười Hai đã không làm tròn. Việc tiếp tục sứ điệp Nước Trời đã không thông qua các ông, nhưng qua các người khác, đặc biệt là phụ nữ, những người sẽ được trao cho một nhiệm vụ rõ ràng là đi tìm gọi lại những môn đệ thất bại đó (Mc 16:7). Và ngày nay, sứ điệp được lưu truyền qua những người nào?

iii) Thái độ của Chúa Giêsu: Cách thức mà trong Tin Mừng Máccô trình bày về thái độ của Chúa Giêsu trong khi nói về cuộc thương khó là có ý mang lại niềm hy vọng ngay cả với các môn đệ chán nản và thất vọng nhất! Bởi vì cho dù sự phản bội của Nhóm Mười Hai có to lớn đến đâu thì tình yêu của Đức Giêsu vẫn luôn bao la hơn! Khi Chúa Giêsu loan báo rằng các môn đệ sẽ chạy trốn, Người đã nói với các ông rằng Người sẽ đợi họ ở Galilêa. Mặc dù Người đã biết trước về việc phản bội (Mc 14:18), chối bỏ (Mc 14:30), tháo chạy (Mc 14:27), Chúa vẫn tiếp tục cử hành Bí Tích Thánh Thể. Và vào tảng sáng Phục Sinh, thiên thần, qua các người phụ nữ, đã gửi một thông điệp đến Phêrô là người đã chối Chúa, và đến tất cả mọi người khác là những kẻ đã bỏ trốn, rằng các ông phải đi đến Galilêa. Nơi mà tất cả mọi việc đã khởi đầu cũng sẽ là nơi mà tất cả mọi thứ được bắt đầu lại. Sự thất bại của Nhóm Mười Hai không làm hủy đi giao ước đã được ký và đóng ấn bằng máu của Chúa Giêsu.

d) Khuôn mẫu của người môn đệ: Đi theo, Phục vụ, Đi lên

Máccô nhấn mạnh đến sự hiện diện của các phụ nữ là những người đi theo và giúp Chúa Giêsu từ lúc Người còn ở Galilêa và đi lên Giêrusalem cùng với Người (Mc 15:40-41). Máccô xử dụng ba chữ để xác định mối quan hệ của những người phụ nữ với Chúa Giêsu: Đi theo! Phục vụ! Đi lên! Các bà “đã đi theo và giúp đỡ” Chúa Giêsu và cùng với nhiều phụ nữ khác “đã cùng đi lên Giêrusalem với Người” (Mc 15:41). Đây là ba từ ngữ để định nghĩa một người môn đệ lý tưởng. Họ là những gương mẫu cho các môn đệ khác là những kẻ đã tháo chạy!

* Đi theo mô tả lời mời gọi của Chúa Giêsu và quyết định đi theo Người (Mc 1:18). Quyết định này ngụ ý là từ bỏ mọi sự và chấp nhận nguy cơ có thể bị giết chết (Mc 8:34; 10:28).

* Phục vụ nói rằng họ là những môn đệ đích thực, bởi vì sự phục vụ là đặc tính của người môn đệ và của chính Chúa Giêsu (Mc 40:42-45).

* Đi lên nói rằng họ đủ tư cách là chứng tá cho cuộc tử nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu, bởi vì như các môn đệ, họ sẽ đi cùng với Người từ Galilêa đến Giêrusalem (Cv 13:31).

Sau khi chứng kiến sự phục sinh của Chúa Giêsu, họ cũng sẽ mục kích những gì họ đã trông thấy và đã trải qua. Đó là kinh nghiệm của phép thanh tẩy của chúng ta. “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). Nhờ bí tích rửa tội, tất cả chúng ta cùng chia sẻ trong cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu.

 

3.  Trợ giúp cho việc suy gẫm

 

i) Trong cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu, điều gì khiến tôi cảm động nhất trong thái độ của mười hai vị tông đồ và thái độ của những người phụ nữ? Bạn sẽ làm gì nếu bạn đã có mặt vào lúc ấy? Bạn sẽ hành động như các vị tông đồ hay sẽ hành động như các người phụ nữ?

ii) Điều gì đã làm bạn cảm động nhất trong thái độ của Chúa Giêsu đối với các môn đệ của Người trong bài tường thuật cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu? Tại sao?

iii) Bài tường thuật về cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu theo Tin Mừng Máccô mang sứ điệp đặc biệt gì? Bạn có đã tìm ra được những khác biệt giữa lời tường thuật về cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Máccô và trong các Tin Mừng khác chưa? Những khác biệt này là gì?

 

4.  Lời cầu nguyện bằng Thánh Vịnh: Thánh Vịnh 22 (21)

 

Bài Thánh Vịnh mà Chúa Giêsu đã cầu nguyện trên Thập Giá

 

Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào,
nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng,
đêm van Ngài mà cũng chẳng yên.

Thế nhưng Chúa ngự nơi đền,
vinh quang của Israel là Ngài.
Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa,
họ cậy trông, Ngài đã độ trì,
van nài liền được cứu nguy,
đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài.
Thân sâu bọ chứ người đâu phải,
con bị đời mắng chửi dể duôi,
thấy con ai cũng chê cười,
lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai:
“Nó cậy CHÚA, mặc Người cứu nó!
Người có thương, giải gỡ đi nào! ”
Đưa con ra khỏi thai bào,
vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn.
Chào đời con được dâng cho Chúa,
được Ngài là Chúa tự sơ sinh.
Xa con Ngài đứng sao đành,
nguy hiểm bên mình không kẻ giúp cho.
Quanh con cả đàn bò bao kín,
thú Ba-san ùa đến bủa vây:
Há mồm đe doạ gớm thay,
khác nào sư tử xé thây vang gầm.
Tưởng mình như tan dần ra nước,
toàn thân con xương cốt rã rời,
con tim đau đớn bồi hồi,
mềm như sáp chảy tơi bời ruột gan.
Nghe cổ họng khô ran như ngói,
lưỡi với hàm dính lại cùng nhau,
chốn tử vong Chúa đặt vào;

Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi.
Bọn ác đó trong ngoài vây bủa,
chúng đâm con thủng cả chân tay,
xương con đếm được vắn dài;
chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.
Áo mặc ngoài chúng đem chia chác,
còn áo trong cũng bắt thăm luôn.
Chúa là sức mạnh con nương,
cứu mau, lạy CHÚA, xin đừng đứng xa.
Xin cứu mạng khỏi sa lưỡi kiếm,
gỡ thân con thoát miệng chó rừng,
khỏi nanh sư tử hãi hùng,
phận hèn khốn khổ thoát sừng trâu điên.
Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa
cho anh em tất cả được hay,
và trong đại hội dân Ngài,
con xin dâng tiến một bài tán dương.

Hỡi những ai kính sợ ĐỨC CHÚA,
hãy ca tụng Người đi!
Hỡi toàn thể giống nòi Giacóp,
nào hãy tôn vinh Người!
Dòng dõi Israel tất cả,
nào một dạ khiếp oai!
Bởi vì Chúa đã chẳng coi thường,
chẳng khinh miệt kẻ nghèo hèn khốn khổ,
cũng không đành ngoảnh mặt làm ngơ,
nhưng đã thương nghe lời cầu cứu.

Chịu ơn Người, tôi dâng lời ca tụng,
ngày đại hội toàn dân.
Điều khấn nguyền, tôi xin giữ trọn
trước mặt những ai kính sợ Người.
Kẻ nghèo hèn được ăn uống thoả thuê,
người tìm CHÚA sẽ dâng lời ca tụng.
Cầu chúc họ vui sống ngàn đời.
Toàn thế giới, muôn người nhớ lại
và trở về cùng CHÚA.
Mọi dân tộc dưới trần
phủ phục trước Tôn Nhan.
Bởi vì CHÚA nắm quyền vương đế,
Người thống trị chư dân.

Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất
sẽ đều bái lạy một mình Người,
phàm những ai trở về cát bụi
sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.
Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa,
con cháu tôi sẽ phụng sự Người.
Thiên hạ sẽ nói về Đức Chúa
cho thế hệ tương lai,
truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người,
rằng: “Đức Chúa đã làm như vậy! ”

 

Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa Cha. Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực hành Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con. Nguyện xin cho chúng con, được trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa. Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Check Also

Thắp nến cầu nguyện cho người thân yêu đã qua đời

THẮP NẾN CẦU NGUYỆN CHO CÁC LINH HỒN Cầu nguyện cho người thân yêu, không …