Home / Event / Lectio Divina: Chúa Nhật XXX Thường Niên (B)

Lectio Divina: Chúa Nhật XXX Thường Niên (B)

Chủ Nhật 28 Tháng Mười, 2018

|

Chúa Giêsu chữa lành Bartimê, người mù thành Giêricô 

Người mù được thấy! Hãy để cho những kẻ nhìn thấy không bị lừa gạt!

Mc 10:46-52

 

1.  Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau.   Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của Chúa.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.

Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng và trong Kinh Thánh, trong các sự kiện của đời sống hằng ngày và trong những người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con để, giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ được hưởng sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.

 

2.  Bài Đọc

a)  Chìa khóa dẫn đến bài đọc:

Bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần này kể về câu chuyện chữa lành của Bartimê, người đàn ông mù thành Giêricô (Mc 10:46-52).  Câu chuyện này bao gồm một bài giáo huấn dài của Chúa Giêsu cho các môn đệ (Mc 8:22-10:52).  Máccô đặt việc chữa lành người mù vô danh tại lúc khởi đầu của bài giáo huấn (Mc 8:22-26), sau đó, tại lúc kết thúc, ông kể cho chúng ta về việc chữa lành người mù thành Giêricô.  Như chúng ta sẽ thấy, hai việc chữa lành là biểu tượng cho những gì xảy ra giữa Chúa Giêsu và các môn đệ.  Chúng chỉ cho ta thấy tiến trình và mục đích của việc học tập chậm chạp của các môn đệ.  Chúng mô tả điểm khởi đầu (người mù vô danh) và điểm kết thúc (Bartimê) của bài giáo huấn của Chúa Giêsu với các môn đệ và cho tất cả chúng ta.

Khi đọc, chúng ta nên cố gắng nhìn vào thái độ của Chúa Giêsu, người mù Batimê và của dân chúng thành Giêricô, và tất cả những gì mỗi người nói và làm.  Khi đọc và suy gẫm bài đọc, hãy nghĩ rằng bạn đang nhìn vào một tấm gương.  Hình ảnh nào đang được phản chiếu về con người của bạn:  hình ảnh của Chúa Giêsu, của người mù Bartimê, hay của dân chúng?

b)  Phần phân đoạn văn bản để trợ giúp cho bài đọc:

Mc 10:46:   Mô tả bối cảnh của đoạn văn

Mc 10:47:  Tiếng kêu cầu của người ăn xin

Mc 10:48:  Phản ứng của dân chúng trước tiếng kêu của người ăn xin

Mc 10:49-50:  Phản ứng của Chúa Giêsu trước lời kêu cầu của người ăn xin

Mc 10:51-52:  Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người mù và việc chữa lành của anh ta

 c)  Tin Mừng:

46 Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ và một đám đông, thì con ông Timê tên là Bartimê, một người mù đang ngồi ăn xin ở vệ đường, 47 khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. 48 Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Đavít, xin thương xót tôi”.

49 Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. 50 Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. 51 Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. 52 Chúa Giêsu đáp: “Được, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

 

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

Để Lời Chúa có thể thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

 

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để giúp chúng ta trong phần suy gẫm cá nhân.

 

a)  Điểm nào trong bài Tin Mừng này bạn thích nhất?  Tại sao?

b)  Thái độ của Chúa Giêsu là gì:  Người đã nói gì và làm gì?

c)  Thái độ của dân thành Giêricô ra sao:  họ nói gì và làm gì?

d)  Thái độ của người mù Bartimê phản ứng như thế nào:  anh ta nói gì và làm gì?

e)  Chúng ta có thể học được bài học gì từ việc chữa lành người mù Bartimê?

 

5.  Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong chủ đề

a)  Bối cảnh về bài giáo huấn dài của Chúa Giêsu với các môn đệ:

Việc chữa lành người mù vô danh vào lúc khởi đầu của bài giáo huấn, xảy ra trong hai giai đoạn (Mc 8:22-26).  Trong giai đoạn đầu, người mù bắt đầu có linh cảm, nhưng chỉ là linh cảm.  Anh ta nhầm lẫn người ta với cây cối (Mc 8:24).  Trong giai đoạn hai, sau lần cố gắng thứ hai, anh ta bắt đầu hiểu rõ hơn.  Các môn đệ cũng giống như người mù vô danh:  Các ông chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, nhưng không thể chấp nhận cây thập giá (Mc 8:31-33).  Họ là những người trông thấy người ta tưởng là cây cối.  Lòng tin của các ông vào Chúa Giêsu không mạnh mẽ lắm.  Các ông tiếp tục là người mù!  Khi Chúa Giêsu nhất quyết về việc phục vụ và thí mạng sống (Mc 8:31,34; 9:31; 10:33-34), các ông cứ khăng khăng tìm hiểu xem trong bọn họ ai là người quan trọng nhất (Mk 9:34), và các ông tiếp tục xin cho được những chỗ ngồi trên hết trong Nước Trời, một người ngồi bên hữu và người kia ngồi bên tả của ngai tòa (Mc 10:35-37).  Điều này cho thấy rằng tư tưởng chi phối của thời bấy giờ đã bén rễ sâu trong tâm lý của họ.  Sau khi sống chung với Chúa Giêsu một thời gian, các ông vẫn chưa đổi mới đủ để nhìn thấy người và việc.  Các ông nhìn Chúa Giêsu với con mắt của quá khứ.  Các ông muốn Người sẽ là người mà các ông mơ ước là:  một Đấng Cứu Thế vinh quang (Mc 8:32).  Nhưng mục đích lời giáo huấn của Chúa Giêsu là để cho các môn đệ có thể giống như anh mù Bartimê, người đã chấp nhận Đức Giêsu như chính con người Chúa, một đức tin mà ông Phêrô đã chưa có được.  Vì vậy người mù Bartimê là một khuôn mẫu cho các môn đệ thời Chúa Giêsu và cho cộng đoàn thời Máccô cũng như cho tất cả chúng ta.

 

b)  Lời bình luận về văn bản

Mc 10:46-47:  Mô tả bối cảnh của đoạn Tin Mừng:  Tiếng kêu của người ăn xin

Cuối cùng, sau khi đi một quãng đường dài, Chúa Giêsu và các môn đệ đã đến thành Giêricô, nơi dừng chân cuối cùng trước khi đi lên Giêrusalem.  Người mù Bartimê đang ngồi bên vệ đường.  Anh ta không thể tham gia vào cuộc tiếp rước đi theo Chúa Giêsu.  Anh ta bị mù, anh không thể nhìn thấy gì.  Nhưng anh ta kêu lớn tiếng, cầu xin sự giúp đỡ:  “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi!”  Khái niệm “Con vua Đavít” là danh hiệu phổ biến nhất mà mọi người gán cho Đấng Cứu Thế (Mt 21:9; Mc 11:10).  Nhưng Chúa Giêsu không thích danh hiệu này.  Người phê phán và đặt vấn đề về thái độ của các luật sĩ là những kẻ đã giảng dạy dân chúng rằng Đấng Cứu Thế là Con vua Đavít (Mc 12:35-37).

 

Mc 10:48:  Phản ứng của dân chúng về tiếng kêu cầu của người ăn xin

Tiếng kêu cầu của người ăn xin nghe cảm thấy khó chịu, không thoải mái.  Những kẻ đang đi theo đám rước Chúa Giêsu thì cố bảo anh Bartimê im tiếng.  Nhưng “anh càng kêu to hơn nữa!”  Ngày nay cũng vậy, tiếng kêu xin của người nghèo khổ làm cho người ta khó chịu.  Ngày nay có hàng triệu người đang kêu lớn tiếng: kẻ di dân, tù nhân, kẻ đói khát, bệnh nhân, những kẻ bị gạt ra bên lề xã hội và bị áp bức, những người thất nghiệp, không tiền, vô gia cư, không nhà, không đất, những kẻ không bao giờ cảm thấy được yêu thương!  Tiếng kêu van của họ đã bị bắt im tiếng, trong gia đình chúng ta, trong giáo hội, trong các tổ chức trên thế gian.  Chỉ có những kẻ mở mắt để thấy những gì đang xảy ra trong thế giới thì sẽ lắng tai nghe tiếng họ.  Nhưng nhiều người trong số ấy đã thôi không nghe nữa.  Họ đã quen với tình cảnh.  Còn những người khác thì cố gắng bịt miệng những người kêu xin, như họ đã cố làm với người mù thành Giêricô.  Nhưng họ không thể làm im hơi lặng tiếng được với lời kêu cứu của người nghèo khó.  Thiên Chúa lắng nghe họ (Xh 2:23-24; 3:7).  Thiên Chúa phán:  “Các ngươi không được ức hiếp mẹ góa con côi; nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu!” (Xh 22:21).

 

Mc 10:49-50:  Phản ứng của Chúa Giêsu đối với tiếng kêu xin của người nghèo

Chúa Giêsu làm gì?  Làm thế nào mà Thiên Chúa nghe thấy tiếng kêu xin này?  Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi người mù đến.  Những kẻ muốn bịt miệng anh ta, muốn làm im tiếng kêu khó chịu của người ăn xin, giờ đây, theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, họ thấy mình bị bắt buộc phải đem người ăn xin đến với Chúa Giêsu như thế.  Người mù Bartimê đã bỏ lại tất cả và đi theo Chúa Giêsu.  Của cải của anh ta không có nhiều, chỉ có chiếc áo choàng.  Đó là tất cả những gì anh ta có để đắp và làm áo che thân (xem Xh 22:25-26).  Đó là sự yên ổn của anh ta, nơi nương tựa của anh ta!

 

Mc 10:51-52:  Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người mù và việc chữa lành của anh

Chúa Giêsu hỏi rằng:  “Anh muốn Ta làm gì cho anh?”  Chỉ kêu lớn tiếng thì chưa đủ.  Người ta phải biết rằng mình kêu lớn tiếng vì điều gì!  Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy!”  Người mù Bartimê đối đáp với Chúa Giêsu trong một cách không bình thường tí nào, dù rằng, như chúng ta thấy, với danh hiệu “Con vua Đavít” mà Chúa Giêsu đã không chuộng (Mc 12:35-37).  Nhưng người mù Bartimê có niềm tin vào Chúa Giêsu nhiều hơn là trong các ý tưởng và danh hiệu dành cho Chúa Giêsu.  Không như những người khác đang hiện diện ở đó.  Họ không thấy được điều gì là quan trọng, giống như Phêrô (Mc 8:32).  Bartimê biết cách cho đi đời sống mình bằng cách chấp nhận Đức Giêsu vô điều kiện.  Chúa Giêsu nói với anh ta:  “Được, đức tin của anh đã chữa anh!”  Tức thì anh ta thấy được.  Anh bỏ lại tất cả và đi theo Chúa Giêsu (Mc 10:52).  Việc chữa lành của người mù là kết quả niềm tin của anh ta vào Chúa Giêsu (Mc 10:46-52).  Bây giờ được trông thấy, Bartimê đi theo Chúa Giêsu và cùng với Người lên Giêrusalem và đồi Canvê!  Anh ta trở thành một môn đệ mẫu mực cho Phêrô và cho tất cả chúng ta: đặt đức tin của chúng ta nơi Đức Giêsu nhiều hơn là những ý tưởng của chúng ta về Người!

 

c)  Phần phụ chú:

Bối cảnh cuộc hành trình đi về Giêrusalem

Chúa Giêsu và các môn đệ đang trên đường đi đến Giêrusalem (Mc 10:32).  Chúa Giêsu đi trước các ông.  Người đi trong vội vã.  Người biết rằng người ta sẽ giết mình.  Ngôn sứ Isaia đã nói tiên tri về điều này (Is 50:4-6; 53:1-10).  Cái chết của Người không phải là một điều gì sẽ xảy đến qua số phận mù mờ hoặc một chương trình được an bài, mà là kết quả của một nhiệm vụ được gánh vác, của một sứ vụ nhận được từ Chúa Cha cùng với những kẻ bị loại trừ vào thời của Người.  Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ ba lần về những khổ hình và cái chết đang chờ đợi Người tại Giêrusalem (Mc 8:31; 9:31; 10:33).  Người môn đệ phải đi theo thầy của mình, thậm chí còn chịu chung sự đau khổ với thầy (Mc 8:34-35).  Các môn đệ sửng sốt và đi cùng với Người với đầy sợ hãi (Mc 9:32).  Các ông không hiểu được những gì đang xảy ra.  Đau khổ không là một phần trong ý tưởng các ông đã có về Đấng Mêssia (Mc 8:32-33; Mt 16:22).  Không chỉ có một số người trong bọn họ không hiểu, mà các ông vẫn còn tiếp tục ấp ủ những tham vọng cá nhân.  Giacôbê và Gioan xin cho được một chỗ danh dự trong Nước Trời, một người ngồi bên hữu và một người ngồi bên tả của Chúa Giêsu (Mc 10:35-37).  Các ông muốn vượt trên cả Phêrô!  Các ông không hiểu được dự tính của Chúa Giêsu.  Các ông chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình.  Điều này phản ảnh những tranh chấp và căng thẳng hiện hữu trong các cộng đoàn vào thời Máccô và thậm chí còn hiện hữu trong các cộng đoàn chúng ta ngày nay.  Chúa Giêsu phản ứng một cách dứt khoát:  “Các con không biết các con đang xin những gì!” (Mc 10:38)  Người hỏi các ông có uống nổi chén Người sắp uống và chịu nổi phép rửa Người sắp chịu.  Chén sắp uống là chén cay đắng cực hình, và phép rửa là phép rửa bằng máu.  Chúa Giêsu muốn biết liệu vì một chỗ ngồi danh dự, các ông có sẽ sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đến chết không.  Các ông đáp:  “Thưa được” (Mc 8:39).  Điều này dường như là một câu trả lời từ đầu môi chót lưỡi của họ vì chỉ một ít ngày sau đó các ông đã bỏ rơi Chúa Giêsu và để mặc Người một mình vào giờ khắc chịu đau khổ (Mc 14:50).  Các ông không có lấy một chút xíu lương tâm, các ông không trông thấy thực tại của bản thân Người.  Trong lời giáo huấn của Người cho các môn đệ, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc thực hiện quyền lực (xem Ma 9:33-35).  Vào thời đó, những người nắm giữ quyền lực không quan tâm gì đến người dân.  Họ hành động theo ý của họ (xem Mc 6:17-29).  Đế chế La Mã đã kiểm soát thế giới và nắm giữ sự phục tùng bằng vũ lực, và do đó, qua hình thức cống vật, thuế xâu, đã có thể tập trung của cải của người dân trong tay một ít người ở Rôma.  Xã hội được đặc trưng bởi việc thi hành sự áp chế và lạm dụng quyền lực.  Chúa Giêsu lại nghĩ khác.  Người nói:  “Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người!” (Mc 10:43).  Người bảo các ông phải tránh những đặc quyền và sự cạnh tranh.  Người đảo ngược thứ tự của hệ thống và nhấn mạnh đến sự phục vụ như một phương cách để khắc phục tham vọng cá nhân.  Cuối cùng, Người đã hiến mạng sống mình để minh chứng cho những gì người đã nói:  “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).

 

Đức tin là mãnh lực có thể biến đổi con người

Tin Mừng Nước Trời nói rằng Đức Giêsu giống như một loại phân bón.  Người làm hạt giống của sự sống phát triển ở người ta, một hạt giống ẩn náu giống như ngọn lửa ẩn mình dưới đống tro tàn của sự tuân thủ, không sinh khí.  Chúa Giêsu thổi hơi trên đống tro tàn và ngọn lửa dấy lên, Nước Trời được mặc khải và người ta vui mừng.  Điều kiện luôn luôn giống nhau:  niềm tin vào Đức Giêsu.

Khi sự sợ hãi xâm chiếm người ta, đức tin biến mất và hy vọng bị dập tắt.  Trong giờ khắc đau khổ của mình, Chúa Giêsu mắng các môn đệ vì việc thiếu lòng tin của họ (Mc 4:40).  Các ông không tin, bởi vì các ông sợ (Mc 4:41).  Chúa Giêsu không thể làm được phép lạ nào tại làng Nagiarét bởi vì người ta ở đó không tin (Mc 6:6).  Họ không chịu tin bởi vì Chúa Giêsu đã không xứng hợp với những ý tưởng của họ có về Người (Mc 6:2-3).  Chính vì việc thiếu đức tin đã khiến cho các môn đệ không thể xua trừ được “quỷ câm” ám một em bé (Mc 9:17).  Chúa Giêsu phê phán các ông:  “Ôi thế hệ cứng lòng, không chịu tin!” (Mc 9:19).  Sau đó, Người chỉ cho các ông cách nào tái nhóm lại ngọn lửa đức tin:  “Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi” (Mc 9:29).

Chúa Giêsu thúc giục người ta phải có lòng tin vào Người và do đó tạo được niềm tin ở những người khác (Mc 5:34,36; 7:25-29; 9:23-29; 10:52; 12:34,41-44).  Suốt sách Tin Mừng Máccô, lòng tin vào Đức Giêsu và lời của Người giống như một mãnh lực thay đổi người ta.  Nó có thể khiến cho tội lỗi của họ được tha thứ (Mc 2:5), có thể khiến cho người ta vượt qua được đau khổ (Mc 4:40), có quyền năng để chữa lành và thanh tẩy chính mình (Mc 5:34).  Đức tin có thể chiến thắng được cái chết, như khi đứa con gái mười hai tuổi của ông Giairô làm bùng cháy lên trong lòng cha của cô niềm tin vào Đức Giêsu và vào lời của Người (Mc 5:36).  Đức tin khiến cho anh mù Bartimê nhảy lên vì vui mừng:  “Đức tin của anh đã chữa anh!” (Mc 10:52).  Nếu có ai nói với ngọn núi:  “Dời chỗ đi, nhào xuống biển!” mà lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý (Mc 9:23-24).  “Vì mọi sự đều có thể đối với người tin!” (Mc 9:23).

“Hãy tin vào Thiên Chúa!” (Mc 11:22).  Nhờ Lời của Người và các hành động của Người, Chúa Giêsu dấy lên trong người ta một dũng lực ngủ yên mà người ta không nhận thức được sự sở hữu của mình.  Đây là những gì xảy ra cho ông Giairu (Mk 5:36), cho người đàn bà bị bệnh hoại huyết (Mk 5:34), cho người cha với đứa con bị động kinh (Mc 9:23-24), cho người mù Bartimê (Mc 10:52), và cho nhiều người khác nữa bởi vì lòng tin của họ vào Đức Giêsu họ đã để cho một đời sống mới phát triển trong họ và trong những người khác.

Việc chữa lành người mù Bartimê (Mc 10:46-52) làm sáng tỏ một khía cạnh rất quan trọng về bài giáo huấn dài của Chúa Giêsu cho các môn đệ.  Người mù Bartimê đã gọi Chúa Giêsu bằng danh hiệu thiên sai của Người “Con vua Đavít!” (Mc 10:47).  Chúa Giêsu không thích danh hiệu này (Mc 12:35-37).  Nhưng ngay cả khi anh ta gọi Chúa Giêsu bằng một danh hiệu không hoàn toàn chính xác, người mù Bartimê đã có lòng tin và được chữa lành!  Phêrô thì không như thế, ông không còn tin vào những ý tưởng về Chúa Giêsu.  Người mù Bartimê đã thay đổi ý tưởng của anh ta, đã hoán cải, bỏ lại mọi sự đằng sau và đi theo Chúa Giêsu trên cuộc hành trình lên đồi Canvê! (Mc 10:52).

Một sự hiểu biết cặn kẽ về việc đi theo Chúa Giêsu thì không thể có được qua việc giảng dạy lý thuyết, mà là qua một sự dấn thân thực tế, làm một cuộc hành trình với Người trên con đường phục vụ từ miền Galilêa đến Giêrusalem.  Bất cứ ai cố mà nắm giữ theo ý tưởng của Phêrô, đó là, về một Đấng Cứu Thế vinh quang không có thập giá, sẽ không hiểu được Chúa Giêsu và sẽ không bao giờ đích thực là môn đệ.  Bất cứ ai muốn tin vào Chúa Giêsu và sẵn lòng “hiến mạng sống mình” (Mc 8:35), chấp nhận “làm sau rốt” (Mc 9:35), “uống chén và vác thập giá” (Mc 10:387), giống như người mù Bartimê, ngay cả với những ý tưởng không hoàn toàn chính xác, sẽ có nghị lực “đi theo Chúa Giêsu” (Mc 10:52).  Điều chắc chắn về việc có thể bước đi cùng với Chúa Giêsu mà chúng ta thấy được là nguồn gốc của lòng can đảm và hạt giống sự chiến thắng của thập giá.

 

6.  Cầu Nguyện với Thánh Vịnh 31 (30)

 Lạy Chúa, con ẩn náu bên Ngài! 

Con ẩn náu bên Ngài, lạy CHÚA,
xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.
Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con,
ghé tai nghe và mau mau cứu chữa.
Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn,
như thành trì để cứu độ con.

Núi đá và thành lũy bảo vệ con, chính là Chúa.
Vì danh dự Ngài, xin dẫn đường chỉ lối cho con.
Lưới kẻ thù giăng, xin gỡ con ra khỏi,
vì nơi con trú ẩn, chính là Ngài.
Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con,
Ngài đã cứu chuộc con, lạy CHÚA TRỜI thành tín.
Ngài ghét bọn thờ thần hư ảo,
phần con đây, lạy CHÚA, chỉ tin tưởng nơi Ngài.
Được Ngài thương, con vui mừng hớn hở,
vì Ngài đã đoái nhìn phận con cùng khốn.
Con lâm cảnh ngặt nghèo, Ngài lo lắng chăm nom,
chẳng trao nộp thân này vào tay thù địch,
nhưng cho con rộng bước thênh thang.

Xin xót thương, lạy CHÚA, bởi vì con lâm cảnh ngặt nghèo,
quá sầu đau, mắt đà mòn mỏi,
hồn ảo não và thân hình tiều tuỵ.

Đời tiêu hao trong nỗi u buồn
và tháng năm tàn lụi giữa tiếng thở than.
Con kiệt lực vì gặp bước khốn cùng, gân cốt con rời rã.

Con đã nên trò cười cho thù địch
và cho cả hàng xóm láng giềng.
Bạn bè thân thích đều kinh hãi,
thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa.
Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ,
con hóa thành đồ hư vất bỏ.
Con nghe thấy những lời độc địa của bao người,
nhìn chung quanh: toàn những điều khủng khiếp.
Chúng toa rập chống con, và mưu toan lấy mạng.

Nhưng con đây vẫn tin tưởng nơi Ngài, lạy CHÚA,
dám thưa rằng: Ngài là Thượng Đế của con.
Số phận con ở trong tay ngài.
Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ,
khỏi người bách hại con.
Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời
trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ.

Lạy CHÚA, xin đừng để con phải nhục nhã, vì đã kêu cầu Ngài,
Nhưng ước gì ác nhân phải nhục nhã
mà ngậm miệng sa xuống âm ty.
Cho phường điêu ngoa phải câm họng;
chúng kiêu ngạo khinh đời, buông những lời hỗn xược
chống lại người công chính.

Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu,
Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài,
và thi thố trước mặt phàm nhân
cho ai tìm đến Ngài nương náu.
Bên Thánh Nhan, Ngài giấu họ kỹ càng
khỏi người đời mưu hại.
Ngài che chở họ trong lều thánh, xa tầm lưỡi thị phi.

Chúc tụng CHÚA đã tỏ tình thương kỳ diệu đối với con
trong thành trì vững chắc.
Vậy mà con đã nói vì hốt hoảng:
“Con bị đuổi đi khuất mắt Chúa rồi! ”
Thế nhưng Ngài đã nghe tiếng nài van
trong ngày con kêu cứu.

Hết mọi người hiếu trung với Chúa,
hãy yêu mến CHÚA đi!
CHÚA giữ gìn những ai thành tín
nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng.
Hỡi mọi người cậy trông vào CHÚA,
mạnh bạo lên, can đảm lên nào!

 

7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa Cha.  Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực thi Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con.  Nguyện xin cho chúng con, trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa.  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  Amen.

Check Also

Lợi Ích của Áo Đức Bà

Thánh Peter Claver cao cả là một vị thánh anh hùng của Thiên Chúa. Ngài …