Home / Event / Lectio Divina: Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu (C)

Lectio Divina: Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu (C)

Friday 28 June, 2019

|

Con chiên lạc và được tìm thấy
Việc hối cải thực sự:  từ công chính đến lòng thương xót
Lc 15:3-7

Lời nguyện mở đầu

Lạy Chúa Cha của con, con đến trước mặt Chúa ngày hôm nay với một trái tim u buồn, bởi vì con biết con là một trong số những người, dù rằng là kẻ tội lỗi, tin tưởng được nên công chính.  Con cảm thấy sức nặng của trái tim làm bằng đá và sắt ở trong con.  Hôm nay, con cũng muốn là một trong những kẻ đến gần với Con Chúa để lắng nghe Ngài nói; con muốn thôi không giống như những người Biệt Phái và Kinh Sư, là những kẻ trước tình yêu của Chúa, lại xầm xì và phê phán.

Con cầu xin Chúa, Chúa của con, xin Chúa hãy động chạm đến trái tim con với Lời của Chúa, với sự hiện diện của Chúa và chế ngự nó chỉ với một ánh mắt nhìn, chỉ với một sự vỗ về của Chúa.  Xin Chúa hãy dẫn con tới bàn tiệc của Chúa, để con cũng có thể được ăn bánh thơm ngon của Chúa, hay dù chỉ là những mảnh bánh vụn, Con Chúa, Đức Giêsu, hạt lúa, Đấng đã trở thành thức ăn nuôi dưỡng của ơn cứu rỗi.  Xin Chúa đừng để con phải đứng bên ngoài, mà hãy cho con được phép ngồi vào bàn tiệc lòng thương xót của Chúa.  Amen.

1.  ĐỌC

a)  Bài Tin Mừng

3 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các người Biệt Phái và Luật Sĩ dụ ngôn này rằng: 4“Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? 5 Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên lên vai, 6 trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng:  ‘Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!’  7 Cũng vậy, Tôi bảo các ông:  Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là chín mươi chín người công chính không cần hối cải”.

b)  Bối cảnh:

Đoạn Tin Mừng ngắn gọn này chỉ là đoạn khởi đầu của chương 15 tuyệt vời của sách Tin Mừng thánh Luca, một chương rất quan trọng, gần như là trọng tâm của sách Tin Mừng và trọng tâm của thông điệp. Thực ra, ở đây có kèm theo ba câu chuyện về lòng thương xót, chỉ bằng dụ ngôn: con chiên, đồng xu và người con, là hình ảnh trong đời sống thực tế, chúng mang trong mình tất cả sự phong phú và trân quý của loài người trước mặt Thiên Chúa, Chúa Cha. Đây là ý nghĩa đích thực của mầu nhiệm Nhập Thể và cuộc đời của Đức Kitô trong thế gian: ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người, Do Thái cũng như Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam cũng như nữ.  Không ai phải đứng bên ngoài bữa tiệc của lòng thương xót.

Trong thực tế, nói một cách chính xác, chương trước chương này thuật lại lời mời gọi đến bàn tiệc của nhà vua và cũng cho chúng ta lời mời gọi sau đây:  “Hãy đến, tất cả mọi thứ đã sẵn sàng!” Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta, Ngài đã chuẩn bị cho chúng ta chỗ bên cạnh Ngài, để cho chúng ta có thể là các khách mời của Ngài, hầu làm cho chúng ta cũng có thể tham dự vào trong niềm hân hoan của Ngài.

c)  Cấu trúc:

Câu 3 là lời giới thiệu và nối kết chúng ta với cảnh trước đó, đó là một trong những cảnh mà thánh Luca mô tả về hoạt động mừng vui, về tình yêu thương và hối cải, về người tội lỗi và kẻ thu thuế, những người không ngại ngần, tiếp tục tiến gần đến Chúa Giêsu để được nghe Người nói. Chính tại đây tiếng xầm xì, sự giận dữ, lời chỉ trích đã dấy lên và do đó, đưa đến việc khước từ của người Biệt Phái và Luật Sĩ, vì họ tin rằng mình công chính và có lẽ phải.

Vì thế, dụ ngôn tiếp theo sau, được cấu tạo trong ba câu chuyện, được coi như là câu trả lời của Chúa Giêsu cho lời xầm xì này; trong trường hợp cuối cùng, câu trả lời cho sự chỉ trích của chúng ta, cho những lời lầm bầm và tức tối của chúng ta đối với Chúa và đối với tình yêu không thể giải thích được của Ngài.

Câu 4 bắt đầu với một câu hỏi hùng biện, trong đó đã bao hàm một câu trả lời phủ định: không ai có thể hành động như là vị Mục Tử Nhân Lành, như Đức Kitô. Và chính ở đó, trong cách cư xử của Chúa, trong tình yêu của Ngài đối với chúng ta, dành cho tất cả mọi người, là nơi có chân lý của Người. Các câu 5 và 6 kể lại câu chuyện, chúng tả lại các hành động, tình cảm của người mục tử:  việc tìm kiếm, sự mệt mỏi, niềm vui mừng của ông trở thành sự dịu dàng và chăm sóc cho con chiên lạc được tìm thấy, việc chia sẻ niềm vui này cùng với bạn hữu. Cuối cùng, với câu 7, thánh Luca muốn miêu tả khuôn mặt của Thiên Chúa, được nhân cách hóa trên Thiên Đàng:  Chúa nóng lòng chờ đợi sự quay trở lại của tất cả con cái Ngài. Ngài là Thiên Chúa, Chúa Cha yêu thương những kẻ tội lỗi, những kẻ nhận thức được rằng mình cần lòng thương xót của Ngài, cần vòng tay yêu thương của Ngài và Ngài không thể hài lòng với những ai tin rằng mình công chính và tiếp tục xa cách với Ngài.

2.  SUY NIỆM LỜI CHÚA

a)  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:

Giờ đây, như người thu thuế và kẻ tội lỗi, tôi cũng ao ước được gần gũi với Chúa Giêsu để lắng nghe Lời Người, chú ý bằng cả con tim và tâm trí, đến mọi điều mà Chúa muốn nói với tôi.  Sau đó, tôi mở lòng mình ra, tôi để cho chính mình được đụng chạm bằng giọng nói của Chúa, bằng ánh mắt nhìn của Chúa chiếu trên tôi, ánh mắt chiếu vào nơi sâu thẳm của con người tôi…

b)  Một vài cách để đào sâu:

“Ai trong số các ông?” 
Thật là cần thiết để bắt đầu bằng câu hỏi mạnh mẽ này của Chúa Giêsu, nói với những kẻ đối thoại với Chúa vào lúc đó, mà cũng để nói với chúng ta ngày nay.  Chúng ta được đặt trước chính mình một cách nghiêm túc, để hiểu chúng ta là ai, nội tâm của chúng ta ra sao.  Chúa Giêsu nói rằng:  “Ai trong số các ông?”  Giống như một ít câu Tin Mừng tiếp theo sau, Người sẽ hỏi rằng:  “Người phụ nữ nào?”  Nó cũng tương đương với câu hỏi mà tác giả Thánh Vịnh đã hỏi, khi hỏi rằng:  “Con người là chi?” (Tv 8:5) và lời ông Gióp lặp đi lặp lại, nói với Thiên Chúa rằng:  “Con người là gì?” (G 7:17).

Vì vậy, chúng ta tại đây, trong câu chuyện ngắn gọn này của Chúa Giêsu, trong dụ ngôn này của lòng thương xót, chúng ta tìm thấy sự thật:  chúng ta có thể hiểu được ai thực sự là người ấy trong số chúng ta.  Nhưng để làm được điều này, chúng ta cần phải gặp gỡ Thiên Chúa, đang ẩn dấu trong những câu Tin Mừng này, bởi vì chính chúng ta phải đối diện với Ngài, chúng ta phải soi mình trong Ngài và tìm thấy chính mình.  Hành động của người mục tử với chiên của mình cho chúng ta biết chúng ta nên làm gì, chúng ta nên làm như thế nào và mặc khải cho chúng ta biết chúng ta là ai trong thực tế; nó cho chúng ta thấy sự trần trụi và các vết thương của mình, sự bệnh hoạn sâu đậm của chúng ta.  Chúng ta, những kẻ tin rằng mình là thần thánh, dù rằng chúng ta chẳng phải là con người.

Chúng ta hãy xét xem tại sao…

“Chín mươi chín – một”
Này đây ánh sáng của Thiên Chúa ngay lập tức đặt chúng ta trong cuộc đối đầu với một thực tại mạnh mẽ, gây bàng hoàng cho chúng ta. Trong bài Tin Mừng này, chúng ta thấy một đoàn chiên, giống như nhiều đoàn chiên khác, khá nhiều, có lẽ thuộc về một người giàu có: một trăm con chiên. Một con số hoàn hảo, tượng trưng, thiêng liêng. Sự viên mãn của con cái Thiên Chúa, tất cả chúng ta, mỗi người, từng người một, không ai có thể bị loại trừ. Nhưng trong thực tế này, một việc không thể tưởng tượng được đã xảy ra:  một sự phân chia bất quân bình tối đa được tạo ra. Một bên là chín mươi chín con chiên và một bên là chỉ có một con chiên. Không có một tỉ lệ tương xứng ở đây.  Và cũng tương tự như các phương cách của Thiên Chúa.  Ngay lập tức, chúng ta suy nghĩ và tự hỏi, chúng ta thuộc về nhóm nào. Chúng ta có thuộc về nhóm chín mươi chín con chiên không? Hay là chúng ta thuộc về phía chỉ có một con, có nghĩa là một mình, thật vinh dự, thật quan trọng để là đối tác với phần còn lại của cả đoàn chiên không?

Chúng ta hãy tra cứu chăm chú vào văn bản.  Chỉ có một con chiên, một con thôi, ngay lập tức nổi bật lên khỏi nhóm bởi vì nó mất, nó đi lạc, nói gọn trong một chữ, sống trong một kinh nghiệm tiêu cực, nguy hiểm, thậm chí có thể chết.  Thế nhưng, đáng ngạc nhiên, người chăn chiên đã không để cho nó phải như thế, ông ta không phủi tay; mà ông đã bỏ lại các con chiên kia, những con vẫn còn ở với ông và đi tìm con chiên lạc.  Có thể nào có một điều như thế không?  Có thể nào việc từ bỏ trong khía cạnh này hợp lý không?  Tại đây, chúng ta bắt đầu bước vào cuộc khủng hoảng, bởi vì việc chắc chắn tự nhiên xảy ra cho chúng ta là tự xem như mình thuộc về nhóm chín mươi chín con chiên, là những người vẫn trung thành.  Và thay vào đó, người chăn chiên ra đi và chạy đi tìm con chiên lạc, kẻ không đáng gì, mà chỉ có sự lo âu và lạc lõng mà chính nó tự chuốc vào thân.

Và sau đó thì điều gì đã xảy ra?  Người mục tử đã không bỏ cuộc ngay lập tức, thậm chí ông ta đã không nghĩ đến việc đi trở về hay quay lại, ông dường như không quan tâm đến các con chiên còn lại của mình, đoàn chiên chín mươi chín con.  Văn bản nói rằng ông “tiếp tục đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được”.  Giới từ thú vị nhất là “tiếp tục”; nó có vẻ gần như là hình ảnh của kẻ mục tử, còng người xuống với trái tim, với ý nghĩ, với thân hình chỉ vì con chiên.  Ông đi tìm kiếm trên đất, truy tìm các dấu vết, mà ông biết chắc nhất và đã ghi khắc trong lòng bàn tay của mình (Is 49:16); ông đặt câu hỏi trong sự im lặng; để lắng nghe xem có còn vang vọng tiếng kêu be be của nó ở xa xa.  Ông gọi nó bằng tên, ông lặp lại tiếng gọi thông thường, với tiếng gọi mà mỗi ngày ông đã đón và đi theo nó.  Cuối cùng, ông đã tìm thấy nó.  Vâng, không thể nào khác được.  Nhưng không có sự trừng phạt nào, không đánh đập, không cay nghiệt.  Chỉ có một tình yêu vô biên và niềm vui tràn trề.  Thánh Luca nói rằng:  “Người đó vui mừng vác chiên lên vai…”  Và ông vui mừng, mở tiệc mừng tại nhà với bạn bè và hàng xóm của mình.  Thậm chí văn bản không hề cho biết xem người mục tử có trở lại sa mạc và đưa 99 con chiên kia về không.

Trước tất cả các điều này, rõ ràng, rất rõ ràng, rằng chúng ta nên là thuộc về phía một con chiên, con chiên lẻ loi, được yêu thương rất nhiều, được chiều chuộng theo cách đó.  Chúng ta nên nhận ra rằng nếu chúng ta đi lạc, đó là chúng ta phạm tội, nếu không có người chăn chiên thì chúng ta không là gì cả.  Đây là đoạn Tin Mừng tuyệt vời mà lời của sách Tin Mừng mời gọi chúng ta phải thực hiện ngày hôm nay:  tự giải thoát mình khỏi sức nặng của nền công lý giả định của chúng ta, loại bỏ hoặc gạt ra ngoài cái ách tự túc của chúng ta và cũng tự đặt mình về phía những kẻ tội lỗi, kẻ nhơ nhớp, kẻ trộm cắp.
Này đây, tại sao Chúa Giêsu bắt đầu bằng cách hỏi chúng ta:  “Ai trong các ông?”

“Trong hoang địa” 
Đây là nơi chốn của sự công chính, của những kẻ tin rằng họ là người công chính, không tội lỗi, không tì vết.  Họ chưa bước vào Đất Hứa, họ hãy còn ở ngoài, rất xa, xa cách khỏi niềm hân hoan, khỏi lòng thương xót.  Giống như những người chưa nhận lời mời đến dự yến tiệc của nhà vua và những kẻ đã thoái thác, một số người nại cớ, những kẻ khác với lý do khác.

Trong hoang địa và không ở trong nhà, giống như là con chiên lạc.  Không tại bàn tiệc của người mục tử, nơi có bánh ngon và nhiều, nơi có rượu làm sảng khoái con tim.  Bàn tiệc được dọn sẵn bởi Chúa:  Mình và Máu Thánh Chúa.  Nơi chính Người Mục Tử lại trở thành con chiên, Con Chiên toàn thiêu, nuôi dưỡng sự sống.

Kẻ nào không yêu thương anh em mình, kẻ không mở lòng mình ra với lòng thương xót, giống như người Mục Tử của bầy chiên đã làm, thì không thể bước vào nhà, mà phải ở bên ngoài.  Hoang địa là di sản của hắn ta, là nơi cư trú của hắn.  Và trong hoang địa thì không có thức ăn, không nước uống, không đồng cỏ, cũng chẳng có chuồng cho đàn chiên.

Chúa Giêsu ăn uống cùng với những kẻ tội lỗi, với người thu thuế, với gái điếm, với những kẻ cùng khốn, với kẻ bị hắt hủi và Chúa chuẩn bị bàn tiệc, bữa tiệc của Người với các món ăn phong phú và rượu hảo hạng, với thức ăn thơm ngon (Is 25:6).  Người cũng mời gọi chúng ta ngồi vào bàn tiệc này.

c)  Những đoạn Kinh Thánh song song cách thú vị: 

Sách thứ hai Samuen 12:1-4:
Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo.  Người giàu thì có chiên, dê và bò, nhiều lắm.  Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất mà ông đã mua.  Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông:  ông xem nó như một đứa con gái…

Mátthêu 9:10-13:
Khi Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông Mátthêu, có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ.  Thấy vậy, những người Pharisêu nói với các môn đệ Người rằng:  “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy?”  Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói:  “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.  Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này:  “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần tế lễ.  Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”

Luca 19:1-10:
Sau khi vào Giêrikhô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy.  Ở đó có một người tên là Giakêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.  Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn.  Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó.  Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông:  “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”  Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người.  Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau:  “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”  Ông Giakêu đứng đó thưa với Chúa rằng:  “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.  Đức Giêsu nói với ông ta rằng:  “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham.  Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”

Luca 7:39:
Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng:  “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào:  một người tội lỗi!”

Luca 5:27-32:
Sau đó, Đức Giêsu đi ra và trông thấy một người thu thuế, tên là Lêvi, đang ngồi ở trạm thu thuế.  Người bảo ông:  “Anh hãy theo tôi!”  Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người.  Ông Lêvi làm tiệc lớn đãi Người tại nhà ông.  Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với các ngài.  Những người Pharisêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giêsu rằng:  “Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?”  Đức Giêsu đáp lại họ rằng:  “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.  Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.”

Mátthêu 21:31-32:
Đức Giêsu nói với họ: “Tôi bảo thật các ông:  những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.  Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin.  Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”

d)  Vài nhận xét ngắn gọn của truyền thống tâm linh thuộc Dòng Cát Minh:

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu:
Nói về linh mục Giacinto Loyson, người đã rời Dòng Cát Minh và sau đó từ bỏ Giáo Hội, thánh Têrêsa viết cho chị Céline như sau:  “Điều chắc chắn là Chúa Giêsu mong muốn thì nhiều hơn so với việc chúng ta làm để đưa con chiên lạc đàn này trở về…” (Thư 129).

“Chúa Giêsu tước đi sự hiện diện hợp lý của mình khỏi đoàn chiên, để ban niềm an ủi cho những người tội lỗi…” (Thư 142).

Nói về tử tội Pranzini, người mà thánh Têrêsa đã đọc lời sám hối của anh ta tại thời điểm cao nhất, người mà ngay trước giờ bị hành hình, cầm lấy cây thánh giá, đã hôn lên những dấu thánh, bà viết:  “Sau đó, linh hồn của Pranzini đã đi để nhận được sự xét xử thương xót của Đấng tuyên bố rằng trên Thiên Đàng sẽ có niềm vui lớn lao vì chỉ một người tội lỗi ăn năn thống hối hơn là 99 người không cần phải ăn năn đền tội…” (MA 46 r).

Chân Phước Êlisabéth:
“Vị linh mục trong tòa giải tội là thừa tác viên của Thiên Chúa, Đấng rất nhân hậu tốt lành để lại 99 con chiên trung thành của mình để chạy đi kiếm một con chiên lạc…” (Trích Nhật Ký, 13/03/1899).

Thánh Gioan Thánh Giá:
“Mong muốn của Người thật tuyệt vời đến nỗi mà Đức Lang Quân sẽ giải thoát và cứu chuộc vợ mình khỏi tay của nhục dục và ma quỷ, để thực hiện điều này, Người vui mừng như vị Mục Tử nhân từ, Đấng mà sau khi nỗ lực tìm kiếm khắp nơi, ông đã tìm thấy con chiên lạc và với niềm vui khôn xiết, ông vác chiên lên vai mà trở về” (CB XXI, Chú Giải).

3.  LỜI CHÚA VÀ CUỘC SỐNG

Một vài câu hỏi:

  “… mất đi một con chiên…”  Bài Tin Mừng ngay lập tức gợi sự chú ý của chúng ta về thực tại rõ ràng và đau khổ của việc đi lạc, của sự mất mát.  Đó là một con chiên trong đàn đi lạc, lìa xa khỏi những con chiên khác.  Đó không phải là câu thắc mắc duy nhất về sự kiện, điều gì đó đã xảy ra, nhưng đúng hơn là đặc tính của con chiên; trên thực tế, trong câu 6, nó được gọi là “con chiên lạc”, như thể đây là tên thật của nó.

Đây là điểm khởi đầu, sự thật.  Bởi vì nó nói về chúng ta.  Chúng ta là những người con bỏ đi xa, những đứa con đi lạc, những đứa con lầm lỗi; nghĩa là, những phường tội lỗi, kẻ thu thuế.  Thật là vô ích để tiếp tục tin rằng chúng ta là người công chính, cho rằng chúng ta tốt lành hơn những kẻ khác, xứng đáng với Nước Trời, với sự hiện diện của Thiên Chúa, gần như với quyền càu nhàu, xầm xì phàn nàn về Chúa Giêsu, Đấng lại đi quan tâm đến những kẻ phạm lỗi.  Tôi nên tự hỏi lòng, trước bài Tin Mừng này, tôi đã có sẵn sàng thực hiện hay hoàn tất con đường hoán cải sâu sắc, con đường của sự cải sửa nội tâm mạnh mẽ này chưa?  Tôi phải quyết định mình sẽ muốn đứng về phía nào:  để cho mình được vác trên vai của người chăn chiên hay là tiếp tục đứng ở đàng xa, nghĩa là đứng một mình, với sự công chính của riêng tôi. Nhưng nếu tôi không biết sử dụng lòng thương xót như thế nào, nếu tôi không biết cách để chấp nhận, tha thứ, qúy trọng, thì làm sao tôi có thể mong đợi tất cả những điều này cho bản thân mình được?

–  “…để chín mươi chín con khác trong hoang địa…”  Tôi nên mở mắt nhìn vào thực tế này:  hoang địa.  Tôi nghĩ là mình đang ở đâu?  Tôi đang sống ở đâu?  Tôi đang đi đâu?  Đồng cỏ xanh của tôi ở nơi nào?  Tôi có tin rằng mình đang an toàn không, rằng tôi đang sống trong nhà của Chúa, trong số những con cái trung thành của Ngài không, nhưng có lẽ sự thật là như thế.  Tác giả Thánh Vịnh nói rằng:  “Trong đồng cỏ xanh rì, Chúa cho tôi nằm nghỉ”.  Nhưng tôi có cảm thấy mình đang ngơi nghỉ không?  Thế thì, tại sao tôi lại lo lắng, bồn chồn, không hài lòng, luôn tìm kiếm cái gì đó nhiều hơn, tốt hơn, sang trọng hơn như thế? Tôi nhìn lại cuộc đời mình:  nó không phải hơi giống như hoang địa sao?  Nơi nào không có tình yêu thương và lòng trắc ẩn, nơi nào tôi vẫn còn sống khép kín khỏi anh chị em tôi và tôi không biết cách chấp nhận họ như chính họ, với những thiếu sót của họ, với các lỗi lầm mà họ đã phạm, trong đau khổ, mà có lẽ họ đã gây ra cho tôi, thì nơi đó hoang địa bắt đầu, nơi đó tôi gầy đi và tôi cảm thấy đói khát.  Đây là thời điểm để cho con tim tôi được thay đổi:  nhận ra bản thân mình đáng thương như thế để trở thành có lòng xót thương.

  “… ông đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm được…”  Chúng ta thấy văn bản mô tả rất tế nhị hành động của người mục tử:  ông để lại tất cả đoàn chiên và đi tìm một con chiên duy nhất bị lạc.  Động đừ được dùng có vẻ hơi lạ, nhưng rất hiệu quả.  Giống như tiên tri Hôsêa nói về Thiên Chúa, rằng Chúa nói với Dân của Người mà Ngài yêu thương, giống như người phối ngẫu:  “Ở đó, Ta sẽ cùng nó thổ lộ tâm tình” (2:16).  Đó là một sự di chuyển, đang được thực hiện bởi tình yêu; một bệnh nhân cúi xuống, kiên trì, không bỏ cuộc, nhưng luôn cố nài.  Thực ra, tình yêu đích thực thì không bao giờ suy giảm.  Chúa hành động theo cách này đối với mỗi người con của mình.  Về phần tôi, nếu tôi nhìn lại, nếu tôi suy nghĩ lại quá khứ của mình, thì tôi sẽ nhận thức được tình yêu bao la như thế nào, bao nhiêu là kiên nhẫn, bao nhiêu là đau khổ, Ngài cũng đã trải qua vì tôi, để đi tìm tôi, để cho tôi lại những gì tôi đã lãng phí và đánh mất.  Người chưa bao giờ bỏ rơi tôi.  Tôi nhận ra điều này, sự thật là như thế.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, tôi phải làm gì, với một tình yêu nhưng không như thế, với một tình yêu tuyệt vời, tràn đầy như vậy?  Nếu tôi giữ kín nó trong tim tôi, nó sẽ bị lạc mất.  Nó không thể được giữ lại cho đến ngày mai, giống như bánh manna; nếu không nó sẽ bị sâu mọt, nó sẽ trở nên ung thối.  Hôm nay, tôi phải chuyển giao nó, phân phát nó, truyền bá nó.  Hãy coi chừng, nếu tôi không yêu thương.  Và tôi cố gắng nghĩ về thái độ của tôi đối với anh chị em tôi, những người mà tôi gặp gỡ mỗi ngày, những người mà tôi chia sẻ đời sống của mình.  Tôi cư xử với họ ra sao?  Ít nhất, trong một số cách nào đó, tôi có giống như người mục tử tốt đẹp, người mục tử nhân lành, người đi tìm kiếm, đến gần, cúi xuống với sự dịu dàng, ân cần, tình bằng hữu, hoặc thậm chí với tình yêu thương không?  Hay là tôi lại hời hợt, thật sự tôi không quan tâm đến bất cứ ai, tôi để mặc mọi người cho sự lựa chọn riêng của họ, để họ sống với nỗi sầu khổ của họ, không chuẩn bị sẵn sàng, trong bất kỳ cách nào, mà chia sẻ với họ, cùng gánh vác chung với nhau không?  Tôi là loại anh chị em nào?  Tôi là loại người cha hoặc mẹ nào?

  “Anh em hãy chia vui với tôi!”  Đoạn Tin Mừng kết thúc bằng một bữa cỗ, sau đó trở thành một bữa yến tiệc thật và thích hợp, theo lời mô tả mà thánh Luca đưa ra tại cuối bài dụ ngôn.  Một bữa ăn của nhà vua, một bữa tiệc long trọng, với những món ăn ngon nhất, được dọn ra, với các con vật nuôi béo, cho dịp này, với những y phục đẹp nhất, với giày trong chân và nhẫn đeo nơi ngón tay.  Niềm vui sướng luôn trở nên tuyệt vời hơn, khi được chia sẻ, niềm vui chung.  Đây là lời mời gọi mà Chúa Cha, vị Vua, nói với chúng ta mỗi ngày, mỗi sáng.  Người mong muốn rằng chúng ta cũng tham dự vào trong niềm vui của Người bởi vì việc trở về của con cái Ngài, anh em chúng ta.  Điều này có là cho tôi buồn không, có khiến cho tôi tức giận không?  Tôi có muốn thà ở lại một cách êm ấm, có lẽ với một khuôn mặt hăm dọa của một người muốn làm cho ra lẽ với những người phạm lỗi, với những người lạc đường lầm lối hay người khác không?  Con tim tôi có đã mở sẵn chưa, nó đã sẵn sàng cho niềm vui mừng này của Thiên Chúa chưa?  Hay là tôi muốn đứng ngoài, có lẽ để phản kháng hay để quở trách những gì dường như không được đúng đối với tôi, có nghĩa là, một phần di sản tương ứng với tôi, một giải thưởng đặc biệt hoặc một phần thưởng để ăn mừng với bất cứ ai mà tôi muốn không?  Nhưng tôi hiểu rõ rằng nếu tôi không bước vào bàn tiệc Thiên Chúa ngay bây giờ, nơi mà những người nghèo khó đã được mời, những kẻ tật nguyền, què cụt, đui mù, những kẻ mà không ai đoái hoài; nếu tôi không tham gia vào niềm vui chung của lòng thương xót, tôi sẽ mãi mãi đứng ngoài, buồn bã, sống riêng mình, trong bóng tối và khóc lóc, như Tin Mừng đã nói.

4.  LỜI CHÚA TRỞ THÀNH LỜI CẦU NGUYỆN

a)  Thánh Vịnh 103:1-4, 8-13

Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi,
toàn thân tôi, hãy chúc tung Thánh Danh!
Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi,
Chớ khá quên mọi ân huệ của Người.
CHÚA tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi,
thương chữa lành các bệnh tật ngươi.
Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt,
bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lương hải hà,
ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc,
khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng.
CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương,
chẳng trách cứ luôn luôn,
không oán hờn mãi mãi.
Người không cứ tội ta mà xét xử,
không trả báo ta xứng với lỗi lầm.
Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất,
tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.
Nhưng đông đoài cách xa nhau ngàn dặm,
tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.
Như người cha chạnh lòng thương con cái,
CHÚA cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.

b)  Lời Nguyệt Kết

Lạy Chúa Cha nhân từ và đầy lòng thương xót, con ngợi khen Chúa vì tình yêu của Chúa mà Chúa đã mặc khải cho chúng con trong Đức Kitô, Con Chúa!  Lạy Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, kêu mời mọi người trở nên có lòng thương xót.  Xin Chúa hãy giúp con nhận ra rằng mỗi ngày con cần sự tha thứ, lòng từ ái của Chúa, rằng con cần tình yêu thương và lòng cảm thông của anh chị em con.  Nguyện xin cho Lời Chúa có thể cải đổi trái tim con và khiến cho con có khả năng theo chân Chúa Giêsu, ra đi mỗi ngày, cùng với Người để đi tìm anh em con trong tình yêu thương.  Amen.

Check Also

Lắng Nghe Thánh Cả Giuse

Chúc mừng Tân Phụ Tỉnh Giuse tại Việt Nam Giuse Phan Quang Trí, O.Carm. Ngày …