Home / Event / Lectio Divina: Chúa Nhật IV Thường Niên (C)

Lectio Divina: Chúa Nhật IV Thường Niên (C)

Chủ Nhật 3 Tháng Hai, 2019

Chúa Giêsu liên kết Kinh Thánh với đời sống

Dân làng Nagiarét không phục Chúa Giêsu và xua đuổi Người

Lc 4:21-30

 

1.  Lời nguyện mở đầu

 Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh với cùng tâm tình mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau.   Trong ánh sáng của Lời Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của Chúa.  Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng, đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.

Xin hãy tạo trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tác Tạo và trong Kinh Thánh, trong các sự kiện của đời sống hằng ngày và trong những người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.  Nguyện xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con để, giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng sẽ được hưởng sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn mạch của tình anh em, công lý và hòa bình.  Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con Đức Maria, Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã sai Chúa Thánh Thần đến với chúng con.  Amen.

 

 2.  Bài Đọc 

 

a)  Chìa khóa dẫn đến bài đọc:

Trong Chúa Nhật Thứ Tư mùa Thường Niên, phần Phụng Vụ trình bày cho chúng ta về cuộc xung đột xảy ra giữa Chúa Giêsu và dân chúng làng Nagiarét.  Điều này xảy ra vào một ngày Thứ Bảy trong lúc cử hành Lời Chúa tại hội đường cộng đoàn, sau khi Chúa Giêsu đọc đoạn Kinh Thánh trích từ sách tiên tri Isaia.  Chúa Giêsu trích dẫn lời ngôn sứ Isaia như để giới thiệu chương trình hoạt động của mình và lập tức bổ sung một lời nhận xét rất ngắn gọn.  Thoạt đầu, tất cả mọi người đều kinh ngạc và vui mừng.  Nhưng khi họ nhận ra được tầm quan trọng của chương trình của Chúa Giêsu liên quan tới đời sống của mình, họ nổi loạn và muốn giết Chúa.  Những loại mâu thuẫn này vẫn còn tồn tại cả đến ngày nay.  Chúng ta chấp nhận người khác, miễn là họ hành động phù hợp với ý tưởng của chúng ta, nhưng khi họ quyết định đón nhận vào trong cộng đoàn những người mà chúng ta loại bỏ, thì chúng ta chống đối.  Đây là những gì đã xảy ra tại làng Nagiarét.

Tin Mừng Chúa Nhật tuần này bắt đầu với câu 21, một lời nhận xét ngắn của Chúa Giêsu.  Chúng tôi mạn phép bao gồm cả lời nhận xét trong các câu 16 đến 20 dẫn trước đó.  Điều này cho phép chúng ta có thể đọc văn bản sách Isaia được trích dẫn bởi Chúa Giêsu và để hiểu rõ hơn về cuộc xung đột, đó là kết quả của việc đọc văn bản này cùng với lời nhận xét ngắn gọn.  Khi đọc, thiết tưởng chúng ta nên lưu ý hai điều:  “Chúa Giêsu khiến cho lời của ngôn sứ Isaia trở thành hiện thực bằng cách nào?  Dân chúng nảy sinh những phản ứng gì về việc hiện thực hóa lời của ngôn sứ Isaia?”

 

b)  Phần phân đoạn văn bản để trợ giúp cho bài đọc:

Lc 4:16:  Chúa Giêsu đến Nagiarét và tham gia vào việc hội họp cộng đồng

Lc 4:17-19:  Chúa Giêsu đọc sách của tiên tri Isaia

Lc 4:20-21:  Chúa Giêsu liên kết Kinh Thánh với đời sống trước mặt dân làng đang chăm chú lắng nghe

Lc 4:22:  Phản ứng mâu thuẫn của công chúng

Lc 4:23-24:  Chúa Giêsu chỉ trích phản ứng của dân chúng

Lc 4:25-27:  Chúa Giêsu làm sáng tỏ lời Kinh Thánh, trích dẫn lời ngôn sứ Êlia và Êlisa

Lc 4:28-30:  Phản ứng tức giận của những người muốn giết Chúa Giêsu

 

c)  Tin Mừng:

 16 Người đến Nagiarét, nơi Người sinh trưởng, và theo thói quen của Người, thì ngày nghỉ lễ, Người vào hội đường. Người đứng dậy để đọc sách. 17 Người ta trao cho Người sách tiên tri Isaia. Mở sách ra, Người gặp ngay đoạn chép rằng: 18 “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo hèn.  Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19 công bố một năm hồng ân của Chúa”.

20 Người cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. 21 Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. 22 Mọi người đều tán thành cho Người và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.  Họ bảo nhau: “Người này không phải là con ông Giuse đó sao?” 23 Người nói với họ: “Hẳn các ông muốn nói với Tôi câu tục ngữ này: ‘Thầy lang ơi, hãy chữa lấy chính mình!’  Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphárnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!”  24 Người nói tiếp: “Ta bảo thật các ông:  không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. 25 Thật vậy, tôi nói cho các ông hay:  vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà góa ở trong nước Israel; 26 thế mà, ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà góa thành Sarépta miền Siđon. 27 Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Syria thôi”.

28 Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. 29 Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi.  Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. 30 Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

 

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

Để Lời Chúa có thể thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

 

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để giúp chúng ta trong phần suy gẫm cá nhân.

 

a)  Điểm nào trong bài Tin Mừng đã làm bạn hài lòng nhất hoặc đánh động bạn nhất?  Tại sao?

b)  Vào ngày nào, tại đâu, qua những ai và bằng cách nào mà Chúa Giêsu trình bày chương trình của mình?

c)  Nội dung chương trình của Chúa Giêsu là gì?  Ai là những người bị loại trừ mà Chúa Giêsu muốn đón chào?

d)  Chúa Giêsu đã hiện thực hóa lời của ngôn sứ Isaia bằng cách nào?

e)  Người ta phản ứng như thế nào?  Tại sao?

f)  Chương trình của Chúa Giêsu có thể nào cũng là chương trình của chúng ta không?  Những người đang bị loại trừ mà chúng ta nên đón nhận vào trong cộng đoàn chúng ta ngày nay là ai?

 

5.  Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong chủ đề

 

a)  Bối cảnh lịch sử để định vị văn bản:  

Trong xã hội Do Thái thời xưa, một đại gia đình hoặc một dòng họ hoặc cộng đồng, là căn bản của đời sống xã hội.  Nó cung cấp sự bảo vệ cho gia đình và người thân, nó bảo đảm sự sở hữu đất đai, nó là phương tiện chủ yếu của truyền thống và sự bảo vệ danh phận của người ta.  Nó là phương cách cụ thể cho tình yêu Thiên Chúa nhập thể trong tình yêu tha nhân.  Bảo vệ gia tộc, cộng đồng, tương đương với việc bảo vệ Giao Ước với Thiên Chúa.

Vào thời Chúa Giêsu, một chế độ nô lệ đôi đã được đóng dấu trên đời sống của người dân và góp phần vào sự tan rã của gia tộc, cộng đồng:  (i) chế độ nô lệ chính trị của chính quyền vua Hêrôđê Antipa (từ năm thứ tư trước Công Nguyên đến năm 39 sau Công Nguyên) và (ii) chế độ nô lệ của các chức sắc tôn giáo.  Bởi vì sự khai thác và đàn áp của chế độ chính trị của vua Hêrôđê, được hỗ trợ bởi đế chế La Mã, nhiều người đã không có một mái nhà cố định và bị loại trừ và thất nghiệp (Lc 14:21; Mt 20:3,5-6).  Gia tộc, cộng đồng, đã bị suy yếu.  Gia đình và người thân thuộc đã không giúp đỡ, không bảo vệ.  Các chức sắc tôn giáo, được duy trì bởi các người có thẩm quyền về tôn giáo thời bấy giờ, thay vì củng cố cộng đồng để họ có thể đón chào những kẻ bị loại trừ, lại đi thêm sức cho chế độ nô lệ này.  Lề Luật Thiên Chúa đã được dùng để hợp thức hóa việc loại trừ hay gạt ra ngoài lề xã hội của nhiều người:  phụ nữ, trẻ em, người Samaritanô, khách ngoại kiều, người phong cùi, kẻ bị quỷ ám, người thu thuế, người bệnh tật, người què cụt tàn tật, kẻ bại liệt. Trái với tình huynh đệ mà Thiên Chúa mơ ước cho tất cả mọi người!  Do đó, tình trạng chính trị kinh tế lẫn hệ thống tư tưởng tôn giáo đã âm mưu với nhau làm suy yếu cộng đồng địa phương và ngăn cản sự biểu lộ của Vương Quốc Thiên Chúa.

Chúa Giêsu phản ứng với tình trạng này với dân của Người và trình bày một chương trình mà sẽ thay đổi nó.  Kinh nghiệm của Đức Giêsu về Thiên Chúa là tình yêu của Chúa Cha, ban cho Người khả năng đánh giá thực tại và nhìn thấy những gì sai trái với đời sống của dân mình.

 

b)  Lời bình luận về văn bản:

Lc 4:16:  Chúa Giêsu đến Nagiarét và tham gia vào việc hội họp tại hội đường

Được quyền năng Thần Khí Chúa thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilêa và bắt đầu rao giảng Tin Mừng về Vương Quốc Thiên Chúa (Lc 4:14).  Người đi đến các làng mạc rao giảng trong các hội đường và cuối cùng đến làng Nagiarét.  Người trở về cộng đoàn, nơi từ thuở ấu thơ trong ba mươi năm, Người đã tham dự vào các buổi nhóm họp hằng tuần.  Vào ngày Thứ Bảy sau khi đến Nagiarét, Đức Giêsu, như thường lệ, đi vào hội đường để tham gia vào việc cử hành nghi thức và đứng lên để đọc.

 

Lc 4:17-19:  Chúa Giêsu đọc một đoạn Kinh Thánh trích từ sách tiên tri Isaia  

Vào thời ấy, có hai bài đọc trong buổi lễ cử hành ngày Thứ Bảy.  Bài đọc thứ nhất liên quan đến Lề Luật của Thiên Chúa, được trích từ sách Ngũ Kinh và cố định.  Bài thứ hai được trích từ những cuốn sách về lịch sử hoặc sách các tiên tri, và được chọn bởi người đọc.  Người đọc có thể lựa chọn.  Đức Giêsu đã chọn bài trích từ sách tiên tri Isaia để trình bày bản tóm tắt sứ vụ của Người Tôi Tớ Chúa, và cũng nó cũng phản ảnh tình cảnh người dân miền Galilêa vào thời bấy giờ.  Nhân danh Thiên Chúa, Đức Giêsu đảm trách nhiệm vụ bảo vệ cuộc sống của dân tộc Ngài, lãnh nhận sứ vụ Tôi Tớ Chúa, và dùng lời ngôn sứ Isaia, công bố trước tất cả mọi người:  “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo hèn.  Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Is 61:1-2).  Người áp dụng truyền thống cổ xưa của các ngôn sứ và công bố “năm hồng ân của Chúa”.  Lời bày tỏ này tương đương với việc công bố năm thánh, hoặc là, Chúa Giêsu mời gọi dân chúng của làng mình bắt đầu đổi mới, viết lại lịch sử từ tận gốc rễ của nó (Đnl 15:1-11; Lv 25:8-17).

 

Lc 4:20-21:  Chúa Giêsu liên kết Kinh Thánh vời đời sống trước mặt dân làng đang chăm chú lắng nghe

Khi Người đọc xong, Chúa Giêsu cuốn sách lại, trao cho người giúp việc hội đường và ngồi xuống.  Khi ấy Đức Giêsu chưa phải là người điều hợp của cộng đồng, Người là một tín hữu bình thường và nên chỉ tham dự vào việc cử hành nghi thức như tất cả những người khác.  Người đã trẩy đi xa khỏi cộng đồng trong nhiều tuần, sau đó đã tham gia hoạt động của Gioan Tiền Hô và đã nhận lãnh phép rửa bởi Gioan trong sông Giođan (Lc 3:21-22).  Hơn thế nữa, Người đã trải qua hơn bốn mươi ngày trong sa mạc, suy gẫm về sứ vụ của mình (Lc 4:1-2).  Ngày Thứ Bảy sau khi trở về với cộng đồng, Chúa Giêsu được mời đọc sách.  Tất cả mọi người đều chăm chú và tò mò:  “Ông ta sẽ nói gì?”  Lời nhận xét của Chúa Giêsu thì ngắn gọn, thực sự rất ngắn gọn.  Người hiện thực hóa văn bản, liên kết nó với đời sống dân chúng nói rằng:  “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.

 

Lc 4:22:  Phản ứng mâu thuẫn của dân chúng

Phản ứng của dân chúng thật là mâu thuẫn.  Thoạt đầu, thái độ của họ là của những người chăm chú, kinh ngạc và tán tụng.  Sau đó, ngay lập tức, lại có phản ứng tiêu cực.  Họ nói:  “Người này không phải là con ông Giuse đó sao!”  Tại sao họ lại cảm thấy chướng tai gai mắt như thế?  Bởi vì Đức Giêsu nói về việc đón tiếp người nghèo khó, kẻ mù lòa, người bị giam cầm và áp bức.  Họ không chấp nhận đề nghị của Người.  Và như thế, chỉ khi Chúa Giêsu trình bày dự án của mình để chào đón những kẻ bị loại trừ, thì chính Người lại bị loại trừ!

Nhưng cũng có một động cơ khác.  Điều quan trọng cần lưu ý đến các chi tiết về lời trích dẫn mà Chúa Giêsu trích từ Cựu Ước.  Trong lời nhận xét ở các câu Lc 3:4-6 vào ngày Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng, Luca có đưa ra một lời trích dẫn từ sách tiên tri Isaia dài hơn để cho thấy rằng việc mở cửa cho các dân ngoại đã được báo trước bởi các ngôn sứ.  Ở đây chúng ta có điều tương tự như thế.  Đức Giêsu trích dẫn lời từ sách Isaia cho đến chỗ nói rằng:  “công bố năm hồng ân của Chúa”, và bỏ ra phần còn lại của câu nói rằng “và một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta, Người sai tôi đi an ủi tất cả những kẻ khóc than” (Is 61:2b).  Dân chúng làng Nagiarét thách thức sự thật Chúa Giêsu đã bỏ bớt phần minh chứng.  Họ muốn Ngày sắp đến của Vương Quốc Nước Trời phải là ngày báo phục lại những kẻ đã áp bức người dân.  Do đó, những ai khóc than sẽ được hồi phục lại quyền của họ.  Dù sao chăng nữa, sự trông đợi, Nước Thiên Chúa sắp đến sẽ không thay đổi bộ máy bất công.  Đức Giêsu bác bỏ lối suy nghĩ này, Người từ chối việc trả thù.  Kinh nghiệm của Người về Thiên Chúa, Chúa Cha, đã giúp Người hiểu rõ hơn về ý nghĩa chính xác của những lời tiên tri.  Phản ứng của Người, không giống như của người dân làng Nagiarét, cho chúng ta thấy rằng hình ảnh cũ về Thiên Chúa như một vị quan tòa nghiêm khắc và hay báo thù thì mạnh mẽ hơn là hình ảnh Thiên Chúa của Tin Mừng, một Chúa Cha yêu thương luôn đón chào những kẻ bị loại trừ.

 

Lc 4:23-24:  Chúa Giêsu chỉ trích phản ứng của người dân

Đức Giêsu diễn giải phản ứng của người dân và xem đó như là một hình thức ganh tị:  “Thày lang ơi, hãy chữa lấy mình!  Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Cápharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!”  Danh tiếng Chúa Giêsu đã lan tràn khắp cả miền Galilêa (Lc 4:14) và dân làng Nagiarét đã không được hài lòng rằng Chúa Giêsu, một người con từ miền đất của họ, đã làm những điều tốt đẹp nơi miền đất người khác mà không làm tại đất nhà mình.  Nhưng có một lý do sâu xa hơn cho phản ứng này.  Ngay cả khi Chúa Giêsu đã làm tại Nagiarét những việc Người đã làm tại Cápharnaum, họ vẫn không chịu tin Người.  Họ biết Chúa Giêsu:  “Ông ta là ai mà dạy dỗ chúng ta?  Người ấy không phải là con ông Giuse đó sao?” (Lc 4:22).  “Ông này không phải là bác thợ mộc sao?” (Xem Mc 6:3-4).  Ngày nay cũng vậy, điều này xảy ra quá thường xuyên:  khi một giáo dân rao giảng trong nhà thờ, nhiều người sẽ không chấp nhận điều đó.  Họ bỏ đi và nói:  “Ông đó hoặc bà đó cũng như chúng ta thôi:  họ biết gì mà nói!”  Họ không thể tin rằng Thiên Chúa có thể nói qua những người bình thường nhất.  Thánh Máccô thêm rằng Chúa Giêsu đau lòng vì sự cứng lòng của dân Người (Mc 6:6).

 

Lc 4:23-27:  Chúa Giêsu làm sáng tỏ lời Kinh Thánh, trích dẫn lời ngôn sứ Êlia và Êlisa

Để xác nhận rằng sứ vụ của Người thực sự là việc đón chào những kẻ bị loại trừ, Chúa Giêsu dùng hai đoạn Kinh Thánh nổi tiếng, câu chuyện của ngôn sứ Êlia và của Êlisa.  Cả hai cho thấy tâm lý khép kín của người dân Nagiarét, và phê bình họ.  Trong thời tiên tri Êlia, có nhiều bà góa trong Israel, nhưng tiên tri Êlia đã được sai đến với một bà góa dân ngoại vùng Sarépta (1 V 17:7-16).  Vào thời tiên tri Êlisa, cũng có nhiều người phong cùi trong Israel, thế mà tiên tri Êlisa đã được sai đến với một dân ngoại người Syria (2 V 5:14).  Một lần nữa, mối quan tâm của Luca cho thấy rằng sự cởi mở ra với dân ngoại đến từ chính Chúa Giêsu.  Đức Giêsu cũng đã phải đối mặt với những khó khăn giống như các cộng đoàn trong thời Luca đã gặp.

 

Lc 4:28-30:  Phản ứng tức giận của những người muốn giết Chúa Giêsu

Việc đề cập đến hai đoạn Kinh Thánh này tạo ra sự căm phẫn hơn trong dân chúng.  Cộng đồng Nagiarét thậm chí còn muốn giết Chúa Giêsu.  Người vẫn giữ bình tĩnh.  Sự giận dữ của người khác sẽ không khiến cho Chúa phân tâm khỏi mục đích của mình.  Luca cho thấy để khắc phục được trạng thái tâm lý đặc quyền và đóng cửa đối với người khác thì khó khăn như thế nào.  Điều tương tự cũng xảy ra vào ngày nay.  Nhiều người Công Giáo trong chúng ta lớn lên với một não trạng khiến chúng ta tin rằng mình thì tốt lành hơn những người khác và người khác phải trở nên giống chúng ta để được cứu rỗi.  Chúa Giêsu không bao giờ nghĩ theo cách này.

 

c)  Phần phụ chú:

 

  • Ý nghĩa của Năm Thánh:

Vào năm 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã mời gọi người Công Giáo cử hành Năm Thánh.  Việc cử hành những ngày quan trọng là một phần của đời sống.  Điều này cho phép chúng ta tái khám phá và làm sống lại nhiệt tình ban đầu của chúng ta.  Trong Kinh Thánh, “Năm Thánh” là một quy luật quan trọng.  Lúc đầu, đã có sắc lệnh là mỗi năm thứ bảy, đất bán hoặc cho thuê phải được trả về với gia tộc đầu tiên.  Mọi người có thể quay trở về với tài sản của mình.  Điều này ngăn chặn việc kinh tế bị ứ đọng và bảo đảm đời sống cho các gia đình.  Trong Năm Thánh, đất đai được bán lại, nô lệ được chuộc lại, các trái nợ được hủy bỏ (xem Đnl 15:1-18).  Việc cử hành Năm Thánh vào mỗi bảy năm không phải là dễ dàng (xem Gr 34:8-16).  Sau thời gian lưu đày, tục lệ cử hành Năm Thánh mỗi 50 năm bắt đầu, đó là, mỗi bảy lần của bảy năm (Lv 25:8-17).  Mục đích của Năm Thánh đã và vẫn còn là để khẳng định các quyền hạn của người nghèo khó, đón chào những kẻ bị loại trừ và tái hòa nhập họ vào trong xã hội.  Năm Thánh là một công cụ pháp lý để trở lại ý thức sâu sắc về Lề Luật Thiên Chúa.  Đó là dịp để cho của cải được luân lưu, để khám phá và sửa chữa các lỗi lầm và bắt đầu mọi thứ một lần nữa.  Chúa Giêsu bắt đầu việc rao giảng của Người bằng cách công bố Năm Thánh, “Năm Hồng Ân của Chúa”.

 

6.  Cầu Nguyện với Thánh Vịnh 72 (71)

 

“Người sẽ giải thoát kẻ nghèo khó đang khóc than!”

Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,

để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Núi đem lại cảnh hoà bình trăm họ,
đồi rước về nền công lý vạn dân.

Người sẽ bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ,
ra tay cứu độ kẻ khó nghèo,
đập tan lũ cường hào ác bá.

Nguyện chúc Người tuổi thọ sánh vầng ô,
như bóng nguyệt đến muôn đời muôn kiếp!

Mong Người xuống tựa mưa sa nội cỏ,
ơn vũ lộ thấm nhuần cả đất đai.

Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.

Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

Dân vùng sa mạc khúm núm quy hàng,
tất cả đối phương nhục nhằn cắn cỏ.

Từ Tácsít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Sơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.

Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.

Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,

chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ,

giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn,
từng giọt máu họ, Người đều coi là quý.

Tân Vương vạn vạn tuế!
Thiên hạ sẽ đem vàng Ả-rập tiến dâng lên,
và cầu xin cho Người luôn mãi,
ngày lại ngày chúc phúc cho Người.

Mong cho xứ sở đầy dư gạo thóc,
đỉnh non cao sóng lúa rì rào,
trổ bông vàng đẹp tựa núi Li-băng,
thâu lượm được nhiều như cỏ dại.

Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,
nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.
Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,
và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.

Chúc tụng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa Israel,
chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu.

Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh,
ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu!
Amen! Amen!

 

7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa Cha.  Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực thi Lời Chúa đã mặc khải cho chúng con.  Nguyện xin cho chúng con, được trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa.  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  Amen.

 

Check Also

Cập Nhật việc Phong Thánh cho Chân Phước Titus Brandsma

Error: please reset date. Vatican, ngày 26 tháng 9 năm 2020, nhóm chuyên gia tư …