Phụng Vụ Cát Minh

Events in June 2026

Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday
Sunday 31 May, 2026
Monday 1 June, 2026
Tuesday 2 June, 2026
Wednesday 3 June, 2026
Thursday 4 June, 2026
Friday 5 June, 2026
Saturday 6 June, 2026
Sunday 7 June, 2026
Monday 8 June, 2026
Tuesday 9 June, 2026
Wednesday 10 June, 2026
Thursday 11 June, 2026
Friday 12 June, 2026(1 event)

Chân phước Hilary Januszewski

Friday 12 June, 2026

Chân phước Hilary Januszewski

Hilary Januszewski chào đời ngày 11 tháng 6 năm 1907 tại Krajenki (Ba Lan), tên thánh là Pawel. Ngài được cha mẹ là Martin và Marianne giáo dục trong đức tin Kitô giáo. Ngài theo học tại trường trung học ở Greblin (nơi gia đình dọn đến sống từ năm 1915), sau đó tiếp tục học tại Học viện Suchary, nhưng phải bỏ dở vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Gia đình ngài sau đó chuyển đến Krakow, nơi ngài theo đuổi các chương trình học khác, và năm 1927, ngài gia nhập Dòng Cát Minh.

Ngài hoàn tất năm tập viện tại Leopoli, và tuyên khấn lần đầu ngày 30 tháng 12 năm 1928. Sau khi học xong triết học tại Krakow, ngài được gửi đến Trường Thánh Albertô tại Rôma CISA. Ngài được  thụ phong linh mục ngày 15 tháng 7 năm 1934. Ngài đạt học vị giảng sư thần học và đoạt giải thưởng danh dự của Học viện Thánh Tôma tại Rôma. Năm 1935, ngài trở về lại Ba Lan và sống tại tu viện Krakow.

Trở về quê hương, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư Thần học Tín lý và Lịch sử Giáo hội tại học viện của Tỉnh Dòng Cát Minh Ba Lan ở Krakow. Ngày 1 tháng 11 năm 1939, Cha Bề trên Tỉnh dòng Eliseus Sánchez-Paredes bổ nhiệm ngài làm Bề trên tu viện Krakow. Vào thời điểm đó, Ba Lan đã bị quân Đức chiếm đóng. Một năm sau, quân chiếm đóng bắt giữ nhiều tu sĩ và linh mục. Ngày 18 tháng 9 năm 1940, bốn tu sĩ dòng Cát Minh ở Krakow bị mật vụ Gestapo bắt đi. Tháng 12 cùng năm, khi thêm nhiều tu sĩ khác bị bắt, Cha Hilary đã tự nguyện trình diện để thay thế cho một tu sĩ già yếu đang bệnh nặng.

Từ ngày đó, hành trình thương khó của ngài bắt đầu. Ngài bị giam ở nhà tù Montelupi (Krakow), rồi bị chuyển đến trại tập trung Sachsenhausen, và vào tháng 4 năm 1941, ngài bị đưa đến trại tập trung Dachau. Tại đây, ngài là một gương mẫu về đời sống cầu nguyện, luôn khích lệ anh em và gieo hy vọng cho tương lai. Ngài thường xuyên hiệp thông cầu nguyện với các tu sĩ Cát Minh khác, trong đó có Thánh Titus Brandsma.

Trong khi ấy, tại dãy barrack 25 của trại, dịch sốt phát ban lan rộng. Để giúp đỡ những người bệnh, 32 linh mục đã tình nguyện phục vụ. Vài ngày sau, Cha Hilary cũng tự nguyện tham gia nhóm này. Sứ vụ bác ái của ngài kéo dài 21 ngày, vì ngài bị nhiễm bệnh và qua đời ngày 25 tháng 3 năm 1945, chỉ vài ngày trước khi trại được giải phóng. Thi thể ngài bị thiêu tại lò thiêu trong trại Dachau.

Cha Hilary Januszewski được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 13 tháng 6 năm 1999, trong chuyến tông du đến thủ đô Warsaw, Ba Lan. Dịp này, Đức Thánh Cha đã tôn phong 108 vị tử đạo Ba Lan – các nạn nhân của cuộc bách hại dưới chế độ Đức Quốc xã – lên bậc Chân phước.

Saturday 13 June, 2026
Sunday 14 June, 2026(1 event)

Ngôn Sứ Êlisê

Sunday 14 June, 2026

Ngôn Sứ Êlisê

Ngôn sứ Ê-li-sê là một nhân vật quan trọng đối với Dòng Cát Minh, được xem là mẫu gương cho đời sống ngôn sứ nối bước Ê-li-a. Tổng Tu Nghị Dòng Cát Minh năm 1399 đã đưa lễ nhớ thánh Ê-li-sê vào lịch phụng vụ của Dòng vào ngày 14 tháng 6 hàng năng.

Ê-li-sê là một ngôn sứ trong Cựu Ước, sống vào khoảng năm 800 trước Công nguyên, trong thời kỳ dân Ít-ra-en đang dần từ bỏ việc thờ ngẫu tượng, sau sứ vụ mạnh mẽ của ngôn sứ Ê-li-a. Thiên Chúa đã chọn Ê-li-sê làm người kế vị Ê-li-a, gọi ông từ một cuộc sống làm nông. Ê-li-a đã trao lại sứ mạng ngôn sứ cho Ê-li-sê bằng cách khoác áo choàng của mình lên vai ông – một hành động đầy ý nghĩa biểu tượng. Ê-li-sê lập tức đáp lại lời mời gọi và trở thành người phụ tá, học trò của Ê-li-a.

Khi Ê-li-a sắp kết thúc sứ mạng trần thế, Ê-li-sê đã xin một "phần gấp đôi thần khí" của thầy mình – biểu lộ ước mong tiếp nối sứ vụ với sức mạnh và lòng tin sâu xa. Ông đã chứng kiến cảnh tượng kỳ diệu khi Ê-li-a được rước lên trời bằng cỗ xe lửa, và sau đó nhặt lấy áo choàng rơi xuống từ thầy mình. Điều này xác nhận rằng Thần Khí của Thiên Chúa giờ đây ở với ông. Phép lạ đầu tiên mà Ê-li-sê thực hiện là tách đôi dòng sông Gio-đan để băng qua.

Sứ vụ ngôn sứ của Ê-li-sê kéo dài khoảng 50 năm, tập trung vào việc chữa lành, đem lại bình an và giảng dạy. Ông đã thực hiện nhiều phép lạ, như chữa bệnh phong cùi cho Na-a-man và làm cho một đứa trẻ sống lại. Ê-li-sê cũng tiếp tục hỗ trợ các “con cái ngôn sứ” – tức là những trường đào tạo các ngôn sứ tương lai. Vai trò của ông là hướng dẫn dân Ít-ra-en trở về với đường lối của Thiên Chúa và tiếp nối công cuộc canh tân thiêng liêng mà Ê-li-a đã khởi xướng.

Cuộc đời của Ê-li-sê phản ánh một đức tin sâu sắc, sự vâng phục và lòng dấn thân phục vụ Thiên Chúa cùng dân Người với khiêm nhường và quyền năng. Tên ông có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng cứu độ”, và câu chuyện của ông được nhắc đến trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.

Monday 15 June, 2026
Tuesday 16 June, 2026
Wednesday 17 June, 2026
Thursday 18 June, 2026
Friday 19 June, 2026
Saturday 20 June, 2026
Sunday 21 June, 2026
Monday 22 June, 2026
Tuesday 23 June, 2026
Wednesday 24 June, 2026
Thursday 25 June, 2026
Friday 26 June, 2026
Saturday 27 June, 2026
Sunday 28 June, 2026
Monday 29 June, 2026
Tuesday 30 June, 2026
Wednesday 1 July, 2026
Thursday 2 July, 2026
Friday 3 July, 2026
Saturday 4 July, 2026(1 event)

✠: Chân Phước Maria Crocifissa Curcio, O.Carm.


Saturday 4 July, 2026

Chân Phước Maria Crocifissa Curcio, O.Carm.

Chân Phước Maria Crocifissa Curcio, người sáng lập Dòng Nữ tu Dòng Cát Minh Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, sinh ngày 30 tháng 1 năm 1877 tại Ispica (Rg), đông nam Sicily, thuộc giáo phận Noto. Cha mẹ ngài là Salvatore Curcio và Concetta Franzò. Ngài là con thứ bảy trong số mười anh chị em, ngài đã trải qua thời thơ ấu của mình trong một môi trường gia đình có giáo dục và địa vị xã hội cao. Ngài đã nhanh chóng bộc lộ trí thông minh hoạt bát và một tính tình dễ chịu. gnài ấy rất có ý chí mạnh mẽ và quyết tâm, và ở tuổi thiếu niên, ngài đã phát triển một khuynh hướng mạnh mẽ để dáng thân cho Chúa đặc biệt muốn phục vụ những người yếu thế và bên lề xã hội.

Năm 1890, ở tuổi mười ba, ngài gia nhập Dòng Ba Cát Minh vì ngài có lòng sùng kính Đức Mẹ Núi Carmel và năng đến đền Đức Mẹ Cát Minh gần đó. Đức Mẹ Cát Minh đã "chiếm trái tim ngài từ khi còn nhỏ" bằng cách giao ngài sứ mạng "làm cho Dòng Cát Minh trở nên tươi mới". Sự hiểu biết về linh đạo Cát Minh đã giúp ngài hiểu được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho ngài.

Năm 1924 ngài gặp Cha Lorenzo, một linh mục và là nhà thần học Dòng Cát Minh và ngài đã thu hút về những điều cha truyền dạy.

Ngày 17 tháng 5 năm 1925 ngài đã chứng kiến  lễ phong thánh Thánh Theresa Hài Đồng Giêsu cùng với Cha  Lorenzo và sau đó ngài đến thành phố Santa Marinella và phục vụ người nghèo và cơ cực. Được phép của Hồng y Antonio Vico, ngài đã lập một hội dòng nhỏ chính vào ngày 16 tháng 7 năm 1926. Hội Dòng Cát Minh nhỏ với tên đầy đủ là Dòng Cát Minh Truyền Giáo Therese Hài Đồng Giêsu sau đó được chuẩn nhận bởi Đức Giáo hoàng vào năm 1930. Sắc lệnh cũng nhận được sự chấp thuận của Hồng y Tommaso Pio Boggiani. Cùng năm đó, ngài khấn trọng và lấy tên "Maria Crocifissa".

Sứ mạng của hội dòng ngài là  "đưa linh hồn đến với Chúa" thông qua các sáng kiến ​​như hỗ trợ các gia đình, cho người nghèo ăn và giáo dục trẻ em. Ngài đã gửi một số chị em đến Brazil vào tháng 12 năm 1947 để truyền bá linh đạo của họ, đồng thời dặn họ "đừng bao giờ quên người nghèo". Ngài mất ngày 4 tháng 7 năm 1957. Ngài được chôn cất tại Nhà Mẹ từ ngày 16 tháng 6 năm 1991 đến nay tại Rome.

Ngài được phong lên bậc Chân Phước và ngày 13 tháng 11 năm 2005.

Trong bài giảng của ngày lễ phong chân phước, Đức Hồng Y đã ca ngợi:

“Chân phước Maria Crocifissa Curcio, một người phụ nữ khéo léo và năng động đã hoàn toàn phù hợp để ân cần quan tâm đến các nhu cầu của người hàng xóm, đến mức coi mình như là một thành viên của "gia đình họ". Mẹ Maria Crocifissa cũng biết cách "lấy len và vải lanh" và sẵn sàng làm việc "bằng chính đôi tay của mình" để làm cho gia đình mà Chúa giao phó cho mẹ được phát triển. Mẹ đã tìm thấy nơi tinh thần dòng Các-men, và cụ thể nhất là nơi đặc sủng chiêm niệm và truyền giáo của Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, động lực để thành lập hội dòng các-men Thừa Sai Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.

 

Tình yêu Chúa Giêsu đã dẫn đưa mẹ đi trên con đường đầy gian khó và cay đắng, khiến mẹ cảm nghiệm được thế nào là chịu  “đóng đinh”, giống như Chúa Giê-su, vì yêu thương anh em, mà mẹ hằng quan tâm cả trong những lúc sống thân mật với Chúa nhất. Mẹ viết trong Nhật ký thiêng liêng: "Chỉ nghĩ đến việc chịu đau khổ vì anh em thôi đã làm tâm hồn tôi vui sướng ... Tôi luôn tỏ ra dịu dàng hơn mỗi ngày... và chính với sự dịu dàng này, tôi yêu những cô gái nhỏ mà Chúa quan phòng đã giao phó cho tôi, tôi yêu toàn thể  thế giới, yêu thiên nhiên với tất cả vẻ đẹp của nó ” (ngày 4 tháng tư năm1928).

Mẹ Maria Crocifissa là một người phụ nữ đơn sơ và mạnh mẽ, được Thiên Chúa tình yêu chiếm  hữu, nên đã biết qui hướng tất cả về trời, nhưng vẫn ân cần cúi xuống trái đất, đặc biệt là trên nhân loại đau khổ và thiếu thốn. Với đức tin sâu xa và niềm say yêu bí tích Thánh Thể, Mẹ đã kín múc được nguồn cảm hứng và của ăn thường xuyên để nên thánh. Mẹ Curcio đã biết kết hợp lời cầu nguyện và hoạt động trong những sự kiện thông thường của cuộc sống hàng ngày, khi quan tâm giúp đỡ người nghèo, đặc biệt là tiếp nhận và đào giới trẻ bị lãng quên nhất. Chính nhờ tính bình thường và ý thức cụ thể như thế nên đó là một mô hình mà ngày nay chúng ta vẫn có thể áp dụng, bởi vì sứ điệp của nó còn rất hợp thời.”