Phụng Vụ Cát Minh

Events in November 2026

Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday
Sunday 1 November, 2026
Monday 2 November, 2026
Tuesday 3 November, 2026
Wednesday 4 November, 2026
Thursday 5 November, 2026
Friday 6 November, 2026 (1 event)

✠
Friday 6 November, 2026

Thánh Nuno Alvares Pereira, tu sĩ, (Lễ nhớ)

Thời Niên Thiếu
Thánh Nuno Alvares Preira, O.Carm. (Sinh 24 tháng 7 năm 1360 tại một thị trấn nhỏ ở Quinta vùng Bonjardim, thuộc Giáo xứ Cernache de Bonjardim, gần  thành phố Sertã, miền trung nước Bồ Đào Nha. Cha ngài là Dom Álvaro Gonçalves Pereira. Ông nội ngài là Tổng giám mục Dom Gonçalo (Gonçalves) Pereira, thuộc thành phần quý tộc. Năm 17 tuổi, ngài kết hôn với Leonor de Alvim, con gái của João Pires de Alvim. Các con cháu của ngài sau này lên trị vì vương quốc Bồ Đào Nha và Brazil từ thế kỷ XVII.

Cuộc Đời Trong Quân Đội.
Nuno bắt đầu gia nhập quân đội từ trẻ, khi mới 13 tuổi, vào năm 1373. Ngài đã  giúp chống lại sự xâm lăng của quân đội Nước Castile (một phần của Tây Ban Nha ngày nay). Nhưng theo bút tích của ngài, trong cuộc đời quân đội, ngài cầm quân chỉ huy tại các vùng biên giới của Bồ Đào Nha trong thời gian dài. Ngài được biết đến là một người dũng mãnh và can đảm. Điều này đã được chứng tỏ qua sự lãnh đạo tài ba của ngài sau này.
Sau khi Vua Fernando I của Bồ Đào Nha qua đời năm 1383. Vương quốc không có hoàng tử nối dõi, Công chúa Beatrice là con một nhưng đã kết hôn với Vua Juan I của nước Castile nên nền độc lập của nước Bồ Đào Nha trở nên rất mõng manh. Nuno là người đầu tiên trong dòng dõi quí tộc đã ủng hộ việc đưa người em của vua Farnando I là John, thủ lãnh của vùng Aviz lên kế vị với hy vọng dành lại sự độc lập cho Bồ Đào Nha.
Sau khi lên ngôi John đã mang quân tiến đánh nước Castile. Nuno được đặt làm người bảo vệ mặt trận miền trung và là Nguyên soái thứ 2 của Bồ Đào Nha. Ngài cũng được phong Bá tước thứ ba của vùng Qurem lúc ngài mới 23 tuổi.
Năm 1984 Vua Juan I nước Castile tiến vào Lisbon xâm lược Bồ Đào Nha để lấy lại quyền lực cho vợ mình (Công chúa Beatrice) nên chiến trận càng căng thẳng. Nuno chỉ huy chống lại sự xâm lăng của vua Castile tại miền bắc Bồ Đào Nha.  Tháng Tám cùng năm đó, ngài chỉ huy quân đội và giành chiến thắng trong trận chiến Aljubarrota. Kể từ trận đánh này, nổi sợ hãi bị xâm lăng bởi nước Castile đã không còn.
Sau cuộc chiến tranh dành quyền và lãnh thổ từ năm 1383-1385 giữa Bồ Đào Nha và Castile, Vua Jonh I đã phong cho Nuno làm Bá tước thứ 2 của vùng Arraiolos và Bá tước thứ 7 của vùng Barcelos. Đây cũng là ba tước vị cao quí nhất được nhà vua ban tặng cho một người thời đó. Vua cũng phong cho ngài là vị Cai quản Vương quốc (Major Majordomo) thứ 38, người chỉ đứng sau vua trong việc lãnh đạo đất nước.

Không muốn để cho địch thủ có cơ hội tấn công, Vua John I và những vị tướng lãnh đã làm những cuộc tấn công bất ngờ vào trong bên trong các thị trấn của nước Castile. Họ cũng canh phòng cẩn mật sự xâm lăng của nước Castile  cho đến khi vua Juan I nước Castile băng hà vào năm 1390. Bồ Đào Nha hoàn toàn hòa bình vào ngày 30 tháng 10 năm 1411 sau hiệp định hòa bình Ayton-Segovia.
Nuno chỉ có một người con gái là Beatriz Pereira de Alvim,  qua cuộc kết hôn với Leonor de Alvim. Beatriz Pereira de Alvim trở thành vị công tước đầu tiên của dòng dõi Braganza. Các con cháu sau này của Nuno thuộc dòng dõi Braganza đã cai trị Bồ Đào Nha từ thế kỷ thứ XVII  Vua của Vương Quốc Bồ Đào Nha (1640-1910); Vua của Vương Quốc  Brazil (1815 – 1822) và hoàng đế của Brazil (1822 – 1889).

Đi tu
Sau khi vợ qua đời, ngài đã vào Dòng Cát Minh năm 1423 tại tu viện Carmo, Lisbon (đây cũng là tu viện mà ngài thành lập). Ngài khấn Dòng và lấy tên là Tu sĩ Nuno Maria. Ngài đã sống cả cuộc đời còn lại tại đây. Ngài qua đời vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh năm 1431. Ngài được nhắc đến là một tu sĩ có đời sống cầu nguyện chuyên chăm, thực hành đời sống ăn năn hối cải và luôn tôn sùng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Ngài cũng được biết đến là một nhà thần nhiệm.
Một năm trước khi Nuno qua đời, Đức Vua John I đã đến thăm ngài, Đức Vua đã ôm hôn ngài và ca ngợi ngài là người bạn thân nhất của vua, là người đã đưa vua lên ngôi và là người dành lại độc lập cho đất nước Bồ Đào Nha.

Mộ của Thánh Nuno bị mất tích trong cuộc động đất lịch sử tại Lisbon năm 1755. Trên tấm bia mộ của ngài còn ghi khắc như sau:
“Ở đây, có một người đang nằm an nghỉ, là một Nuno nổi tiếng, một vị nguyên soái, là người sáng lập ra dòng dõi Braganca, một vị tướng lỗi lạc, một tu sĩ đạo hạnh. Cả cuộc đời của ngài trên dương gian này luôn khao khát cho Nước Trời. Ngài xứng đáng được hưởng cuộc sống đời đời với các thánh. Những danh hiệu trần gian của ngài thì đầy dẫy nhưng ngài đã chê bỏ mọi sự. Ngài là vị hoàng tử tuyệt vời nhưng đã tự hạ trở thành một vị tu sĩ khiêm nhường. Ngài đã thành lập, xây dựng và để lại tu viện này và cũng là nơi mà thân xác ngài được yên nghỉ.”

Thánh Nuno được phong Á Thánh vào ngày 23 tháng 1 năm 1918 bởi Đức Giáo hoàng Benedict XV. Ngày lễ nhớ của ngài được nhớ vào ngày 1 tháng 4 hằng năm.
Năm 1940 Bởi sắc lệnh của Giáo hoàng Piô XII ngài được phong hiển thánh. Tuy nhiên, theo lời xác minh của linh mục chuyên trách cho án phong thánh của Chân Phước Nuno thuộc Dòng Cát Minh, việc phong thánh của ngài bị trì hoãn vì một số vấn đề tế nhị với chính phủ Bồ Đào Nha. Vì vậy việc phong thánh đã bất thành. Tuy vậy, án phong thánh cho ngài vẫn được mở và có hiệu lực.
Ngày 3 tháng bảy năm 2008, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã ký hai sắc lệnh tại Roma, tuyên dương nhân đức anh dũng của Á Thánh Nuno. Phép lạ đi kèm cũng được xác nhận bởi hội đồng thẩm định Y Khoa. Bởi sắc lệnh này, Đức Giáo hoàng sẽ phong hiển thánh cho ngài với tên đầy đủ là Thánh Tu Sĩ Nuno Maria Àlvares Pereira. Ngày lễ phong thánh cho ngài sẽ được cử hành vào ngày 26 tháng 4 năm 2009. Ngày Lễ kính ngài sẽ được kính vào ngày 6 tháng 11 hằng năm trong lịch công giáo.

Lời nguyện,
Lạy Chúa, Chúa đã gọi thánh Nuno Àlvares Pereira bỏ giáo mác mà theo Chúa.
Dưới sự che chở của Đức Maria Núi Cát Minh và qua lời cầu bầu của Thánh Nuno, xin cho chúng con cũng biết từ bỏ mình và hiến dâng cả cuộc đời chúng con cho Chúa với cả trí lòng.  Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con.

Lm. Trần Thăng Hưng, O.Carm, lượt dịch

Saturday 7 November, 2026
Sunday 8 November, 2026 (1 event)

✠
Sunday 8 November, 2026

Thánh Elizabeth của Ba Ngôi (OCD), trinh nữ

Lời ca tụng Vinh Quang

Cuộc đời ngắn ngủi 

Cuộc đời Élisabeth thật ngắn ngủi! Chào đời năm 1880, chị vào Đan Viện Dijon năm 1901, ở tuổi 21, và 5 năm sau qua đời, ngày 09-11-1906, ở tuổi 26. Cuộc đời ngắn ngủi ấy khiến người ta nghĩ đến Têrêxa Lisieux, và cũng như Têrêxa, chỉ trong vài năm ấy, Élisabeth đã trải qua một cuộc phiêu lưu tâm linh đẹp biết ngần nào! Khi mà Tình Yêu Thiên Chúa chiếm hữu một người trẻ và đốt cháy đến tàn rụi…

Sứ điệp  

Vừa qua đời, Élisabeth đã tỏa rạng qua một số bút tích của chị, nhất là qua lời nguyện nổi tiếng: “Ôi lạy Thiên Chúa Ba Ngôi con thờ kính”. Qua việc tôn phong chân phước cho chị mới đây ngày 25-11-1984, Giáo Hội đã nhìn nhận chứng từ và sứ điệp của chị.

Élisabeth không hề có ý định đưa ra một giáo thuyết riêng tư hay độc đáo nào. Giáo thuyết tâm linh của chị, đã được chị thu nhặt từ Thánh Kinh, cách riêng từ Tin Mừng theo Thánh Gioan, và các thư của Thánh “Phaolô thân yêu” của chị.

Élisabeth đã đọc, đọc đi đọc lại, suy niệm các bản văn Kinh Thánh. Chị đã đặt mình “hoàn toàn lắng nghe lời Thiên Chúa”. Đến lượt chúng ta, chúng ta hãy lắng nghe chị Élisabeth truyền đạt lại những gì chị đã múc được nơi nguồn suối tuôn chảy của Thánh Kinh.

Tên gọi “Élisabeth Chúa Ba Ngôi” 

Ngày rước lễ lần đầu, hồi 11 tuổi, Élisabeth đã được nghe một nữ tu bề trên Cát-Minh giải thích ý nghĩa tên của chị trong tiếng Do-Thái: Élisabeth là “Nhà Thiên Chúa”. Thiên Chúa cư ngụ trong chị từ ngày nhận lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Lời giải thích ấy đã ghi dấu sâu đậm cuộc đời của chị.

Về sau, trước khi vào dòng Cát-Minh, chị được cha Vallée – bề trên dòng Đa-Minh ở Dijon – soi sáng cho về những nét rực rỡ trong Mầu nhiệm Ba Ngôi và về vẻ đẹp của tên gọi chị sắp nhận:Élisabeth Chúa Ba Ngôi (thoạt đầu, chị đã mong khi vào dòng sẽ được chọn tên Élisabeth Chúa Giê-su).

Chị dần dần khám phá ra “Mầu nhiệm Ba Ngôi và cả một ơn gọi trong tên của chị” (thư 113). “Tôi yêu thích tên tôi biết bao; nó nói lên tất cả ơn gọi của tôi. Mỗi lần nghĩ đến nó, tâm hồn tôi đều hướng tới diễm phúc lớn lao được hưởng kiến mầu nhiệm trên hết các mầu nhiệm, trong mầu nhiệm Ba Ngôi, Đấng ngay từ đời này đã là nội cấm, là nơi cư ngụ của chúng ta” (thư 185).

Điều đánh động Élisabeth là với đức tin, ta có thể sống thân mật với Ba Ngôi Thiên Chúa, nếm trước phúc lạc trên trời. “Ngay từ đời này, Thiên Chúa đã cho ta được sống thân mật với Ngài, và có thể nói là đã được bắt đầu sống cuộc sống đời đời, khi cùng kết hợp với Ba Ngôi Thiên Chúa! Ôi nhiệm mầu thay!” (L 223).

Đó đã là thiên đàng dưới thế, đã là thiên đàng trong đức tin rồi. Élisabeth muốn truyền lại cho chúng ta lòng sùng kính Ba Ngôi như đã truyền lại cho em chị là cô Guite: “Chị để lại cho em lòng sùng kính Ba Ngôi, chị gửi em lại cho ‘Tình Yêu’. Em hãy sống trong lòng em với Chúa Ba Ngôi, trong thiên đàng của tâm hồn em” (thư 269).

Yêu mến Chúa Kitô 

“Tôi yêu mến Chúa Kitô của tôi biết bao!” (thư 99). Tiếng thốt lên từ con tim của Élisabeth mấy ngày trước khi chị nhận tu phục, cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu trọn ơn gọi Cát-Minh của chị. “Một đan nữ Cát-Minh là một tâm hồn đã nhìn ngắm Đấng Bị Đóng Đinh Vào Thập Giá…” (thư 133). Élisabeth đã triền miên chiêm ngắm Đấng Bị Đóng Đinh Vào Thập Giá.

Chị đã bị “tình yêu quá rộng lớn” của Ngài chiếm hữu (thư 298) theo kiểu nói của Thánh Phaolô (Ep 2, 4) mà chị thường nhắc đi nhắc lại. Chị muốn đáp lại Đấng đã quá yêu chị, bằng tình yêu, bằng sự dâng hiến chính mình.

“Thánh tông đồ đã kêu lên: ‘Không phải tôi sống, chính Chúa Kitô sống trong tôi…’. Đó là điều tâm hồn Cát-Minh của tôi hằng mơ ước… Một cách nào đó, chúng ta hãy trở thành một nhân tính phụ thêm cho Chúa, để nơi đó, Ngài có thể tái diễn tất cả mầu nhiệm của Ngài” (thư 214). Mầu nhiệm ấy, chính là mầu nhiệm của Chúa Kitô, Đấng tôn thờ Cha và cứu độ loài người.

Trong suốt cơn bệnh của chị, Élisabeth cố gắng thể hiện sâu sắc hơn “việc trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Con” như thánh Phaolô đã nói tới trong Rm 8,29, nhờ đau khổ mà được trở thành đồng hình đồng dạng “với Đấng Bị Đóng Đinh Vào Thập Giá vì yêu thương” (thư 306-307) và được dự phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô vì lợi ích của thân thể Ngài là Giáo Hội (Col 1,24 – thư 309).

Ca Tụng Vinh Quang  

Élisabeth đã đọc bản thánh ca mở đầu thư gửi các tín hữu Ê-phê-sô (1, 12), và đã ghi nhận một thành ngữ quan trọng, nhìn thấy nó là ơn gọi của chị. “Ước mơ của tôi là trở thành lời ca tụng cho vinh quang Thiên Chúa: Tôi đã đọc thấy điều này trong thư thánh Phaolô, và Đức Phu Quân của tôi đã cho tôi hiểu rằng đó là ơn gọi của tôi ngay từ chốn lưu đày này, trong khi chờ đợi trở về ca hát bài Sanctus (Thánh) vĩnh cửu trong kinh thành các thánh” (thư 256). Kể từ đó, chị đã ký tên vào một số thư từ và bài thơ bằng thành ngữ Latinh “Laudem Gloriae” (Ca Tụng Vinh Quang).

Cái ơn gọi “Ca Tụng Vinh Quang” ấy cũng đã được Élisabeth đem đề nghị với cô em Guite và Mẹ bề trên Germaine, bởi vì mỗi Kitô-hữu đều được mời trở thành “lời ca tụng cho vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi”. “Đó là niềm mơ ước to lớn trong trái tim của Thiên Chúa”. Élisabeth viết như thế.

Và ít lâu trước khi chết, chị còn mô tả trong niềm hớn hở an bình cái phận vụ ca tụng vinh quang ấy, phận vụ thực hiện ngay từ đời này bản nhã ca vĩnh cửu: “Trong thiên đàng tâm hồn mình, mỗi người chúng ta hãy là những lời ca tụng vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi… Một ngày kia, bức màn sẽ rơi xuống, chúng ta sẽ được đưa vào cung điện vĩnh cửu, và ở đó, chúng ta sẽ hát ca giữa lòng Tình Yêu Vô Biên. Và Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta tên mới đã hứa cho kẻ chiến thắng. Tên đó là gì? ‘Laudem Gloriae’” (Thiên đàng trong niềm tin, 44).

Bí quyết hạnh phúc 

Élisabeth đã rất nhiều lần nói đến điều chị gọi là “bí quyết hạnh phúc”, và chị muốn truyền lại cho chúng ta cái bí quyết hạnh phúc ấy. Đó là sống thân mật với Thiên Chúa. “Ôi, tôi hết sức ước ao được nói cho mọi tâm hồn biết họ sẽ gặp được những nguồn mạch nào của sức mạnh, an bình, và cả hạnh phúc nữa, nếu họ chịu sống trong sự thân mật ấy” (thư 302). Vì “sống thân mật với Thiên Chúa thật quá giản dị” (thư 301).

Élisabeth không ngừng lập đi lập lại: “Có một Đấng là tình yêu và Ngài muốn chúng ta chung sống với Ngài” (thư 327). Đó là sứ điệp cuối cùng chị từng lặp lại trong các bức thư sau hết. Đối với chúng ta, đó cũng như thể một di chúc của Élisabeth.

“Tôi để lại cho các bạn niềm tin của tôi, niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa, của vị Thiên Chúa thuần tình yêu cư ngụ trong tâm hồn chúng ta. Tôi xin thổ lộ với các bạn điều này: Chính việc sống thân mật với Ngài ‘ở bên trong’ đã là mặt trời đẹp nhất chiếu sáng đời tôi, dường như thể ngay ở đây và bây giờ tôi đã được nếm trước thiên đàng rồi vậy” (thư 333).

“Tin rằng có một Đấng mang tên là Tình Yêu, tin Ngài ở trong chúng ta từng giây phút cả ngày lẫn đêm và tin rằng Ngài mời ta chung sống với Ngài, đồng thời lãnh nhận cả mọi niềm vui và mọi nỗi khổ đau như trực tiếp đến từ tình thương của Ngài. Những điều ấy nâng tâm hồn vượt lên trên những gì đang qua đi, những gì đang nghiền nát chúng ta, và ban cho tâm hồn được an nghỉ trong niềm an bình, trong tình yêu trường cửu của các con cái Thiên Chúa” (thư 330).

Tu huynh Jean Philippe Houdret

Tác giả Đỗ Tân Hưng (Hương Vĩnh)

Monday 9 November, 2026
Tuesday 10 November, 2026
Wednesday 11 November, 2026
Thursday 12 November, 2026
Friday 13 November, 2026 (1 event)

✠
Friday 13 November, 2026

Chân Phước Maria Teresa Scrilli, trinh nữ

Chân phước Maria Scrilli  sinh ngày 15 tháng 5 năm 1825 tại Roma, Italy. Chị gia nhập Dòng Cát Minh và sau đó trở thành đấng thành lập Dòng Nữ tu của Đức Mẹ Núi Cát Minh, một chi nhánh của dòng Cát Minh. Sau đó, ngài lấy tên à "Maria Teresa of Jesus" vì có lòng yêu mến Thánh Teresa Ávila.

Scrilli đã trở thành một nhà giáo dục nổi tiếng và đã mở một số trường học trong suốt cuộc đời của mình, ngài dạy Giáo Lý và nhiều môn khác cho các nữ sinh. Trong giai đoạn chống chủ nghĩa giáo sĩ đã buộc ngài phải giải tán các trường học và nhà Dòng cho đến một thời gian dài ngài mới có cơ hội thiết lập lại Dòng và các trường học mới. Ngài cũng được biết trong cách đối xử nhân ái với người nghèo. Ngài đã đóng góp nhiều ý kiến sáng suốt  cho nền giáo dục Kitô Giáo. Ngài qua đời vào ngày 14 tháng 11 năm 1889.

Đức Bênêđíctô XVI đã công nhận một phép lạ do sự chuyển cầu trực tiếp của ngài vào năm 2005 và phong chân phước cho ngài ở Fiesole vào ngày 8 tháng 10 năm 2006; Hồng y José Saraiva Martins thay mặt giáo hoàng chủ tế thánh lễ.

Saturday 14 November, 2026 (1 event)

✠
Saturday 14 November, 2026

Các Thánh Dòng Cát Minh, (Lễ Kính)

 

“Cũng như Tiên tri Ê-li, tổ phụ Dòng Cát Minh, tất cả các thánh Cát Minh cũng được đào luyện trong trường học của một nền linh hạnh nồng cháy. Tất cả họ, qua đời sống, qua tình yêu và qua sự trung thành theo bước Đức Kitô cùng với Đức Trinh Nữ Maria Núi Cát Minh, đã làm nên lịch sử của Dòng Cát Minh, họ như một bài ca chúc tụng Thiên Chúa”

Dòng Cát Minh đã  nhận được món quà tuyệt vời từ những vị nam nữ tu sĩ của Dòng, những người đã tận hiến cả đời họ cho Thiên Chúa. Họ ôm trọn  những huấn dụ của Thiên Chúa và sống đời họ “trunh thành theo Đức Kitô”. Họ dâng hiến cuộc đời của họ cho việc phục vụ nhà Chúa qua cầu nguyện, qua từ bỏ chính mình và qua việc yêu mến các linh hồn. Đôi khi, họ đã phải đổ máu đào của chính họ để chứng minh cho tình yêu này.

Các thánh Cát Minh là ai? Họ là những vị ẩn sĩ của núi Cát minh, những người sống trong những căn phòng nhỏ, giống như những lổ của tổ ong, họ sống như những con ong, ngày đêm thu lượm mật ngọt tâm linh của Thiên Chúa. Họ là những vị khất sĩ sống đời sống Cộng đồng thời trung cổ, những người đã khám phá ra sự hiên diện của Thiên Chúa trong từng sự kiện của cuộc đời đặc biệt là qua anh chị em của họ. Họ là các giáo sư, các thầy giảng, các nhà truyền giáo và các vị tử đạo, những người đã tìm kiếm dung nhan Thiên Chúa giữa lòng thế giới. Họ là các nữ tu dòng kín đã đóng góp cho sự thánh thiện của dân Chúa qua những kinh nghiệm thần bí, qua đời sống chiêm niệm và cầu nguyện liên lủy. Họ là các nam nữ tu sĩ, những người đã cho chúng ta thấy khuôn mặt của Chúa Kitô qua những hoạt động tông đồ trong bệnh viện và trường học, đặc biệt là tại những miền đất truyền giáo. Họ cũng là các giáo dân đã ôm trọn tình thần Cát Minh và đã thực hiện tinh thần đó trong đời sống thường nhật của họ. Simon Stock, Andre Corsini, Alber Trapani, Gioan Thánh Giá, Têrêra Avila, Thêrêsa Hài đồng Giêsu, Edith Stein, Titus Brandsma, Angeli Paolo và rất nhiều vị thánh và chân phước Cát Minh khác giờ đây hiệp cùng mới Đức Maria, Đức Mẹ núi Cát Minh, cùng cất tiếng ca tụng và ngợi khen Thiên Chúa trên Thiên Đàng.

Họ có thể là một vị thánh lớn được  toàn thể Giáo Hội tôn kính và nhớ trong phụng vụ, hoặc họ là những vị thánh khiêm tốn, chỉ có vài người biết biết hoặc tôn kính ngoài nhà Dòng. Nhưng tất cả, qua đời sống của họ, đã cống hiến cho chúng ta một bí mật của sự thánh thiện, một gương mẫu để trở nên thánh. Họ có thể dạy chúng ta làm thế nào để sống các nhân đức Tin, Cậy, Mến và làm thế nào để sống cam kết theo Chúa mỗi ngày.

Các Thánh Dòng Cát Minh đã để họ được đào luyện theo hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria, người đã sống trong sự thân mật với Thiên Chúa. Nơi Mẹ, các Thánh Cát Minh đã học được cách sống trong Đức Kitô, sống cho tình yêu Đức Kitô. Nơi Mẹ, họ đã được truyền cảm hứng đế tận hiến cả cuộc đời họ cho Giáo Hội và cho các linh hồn. Tóm lại, cuộc đời của Đức Trinh Nữ Maria có một tầm quan trọng tuyệt đối trong kinh nghiệm của tất cả các Thánh Cát Minh.

Chúng ta nguyện xin những gương lành của các thánh Cát Minh tiếp tục truyền cảm hứng sự thánh thiện cho những thế hệ anh chị em tu sĩ mai sau của nhà Dòng. Đế giống như các thánh, chúng ta cũng có thể sống trong sự trung thành với Đức Giêsu Kitô và phục vụ Ngài với tâm hồn trong sạch và lương tâm ngay lành. Để cùng với Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta biết ngày đêm suy gẫm luật Chúa và mang ra thực hành. Cuối cùng, chúng ta nguyện xin những gương nhân đức của các Thánh Cát Minh biến chúng ta thành một khí cụ yêu mến và phục vụ Thiên Chúa, giáo hội và thế giới một các mạnh mẹ và cụ thể.

Lm. Giuse Trần Thăng Hưng, O.Carm,

Sunday 15 November, 2026 (1 event)

✠
Sunday 15 November, 2026

Lễ Các Đẳng Dòng Cát Minh (Lễ Nhớ)

 

Ôi Giê-su, Chúa là nguồn sự sống

Là hy vọng, và là sự phục sinh

Xin nghé xem ở nơi chốn luyện hình

Nơi các đẳng đang chờ ơn giải thoát.

 

Ôi lạy Chúa, nguyện xin Ngài thương đoái

Các linh hồn Cát Minh đã ra đi

Những linh hồn sống đời tìm Nhan Thánh

Lòng cam đoan bước theo Chúa trung thành.

 

Đây bậc cha anh, chúng con kính nhớ

Núi Cát Minh khi xưa sống ẩn mình

Nguyện một lòng theo gương thánh Tổ Phụ

Dưới cánh tay phù trợ của Nữ Trinh.

 

Tám trăm năm giữ gìn linh đạo thánh

Tiền nhân xưa vượt ngàn nỗi hiểm nguy

Dẫu đời truân chuyên, dẫu cảnh thăng trầm

Đường nên thánh giữ gìn cho hậu thế.

 

Mong toàn thể người thân yêu ban hữu

Đã ly trần, nay nghỉ giấc bình an

Được Ngài thương cho hưởng phúc thiên đàng

Hầu ca tụng tán dương Ngài muôn thuở.

 

Xin chúc vinh Ngôi Cha, Đấng Thượng Trí

Cùng Ngôi Con, Đấng Vinh Hiển Phục Sinh

Và Ngôi Ba, Đấng Ban Sức Phù Trì

Xin vinh chúc đến muôn đời muôn thuở.

 

Nguyễn Văn Diệu

Monday 16 November, 2026
Tuesday 17 November, 2026
Wednesday 18 November, 2026
Thursday 19 November, 2026
Friday 20 November, 2026
Saturday 21 November, 2026
Sunday 22 November, 2026
Monday 23 November, 2026
Tuesday 24 November, 2026
Wednesday 25 November, 2026
Thursday 26 November, 2026
Friday 27 November, 2026
Saturday 28 November, 2026
Sunday 29 November, 2026
Monday 30 November, 2026
Tuesday 1 December, 2026
Wednesday 2 December, 2026
Thursday 3 December, 2026
Friday 4 December, 2026
Saturday 5 December, 2026