Home / Chia Sẻ / KINH NGHIỆM TÂM LINH CỦA GIÊRÊMIA

KINH NGHIỆM TÂM LINH CỦA GIÊRÊMIA

KINH NGHIỆM TÂM LINH CỦA GIÊRÊMIA

Lm. Phaolô Đặng Văn Tuấn, O.Carm.

Dẫn Nhập

Khi tìm hiểu sách Giêrêmia, cho chúng ta biết tác phẩm gồm 52 chương, là một cuốn sách dài nhất trong bộ Thánh Kinh, sau sách Isaia. Trong sách Giêrêmia, độc giả có thể thấy ngôn sứ với những nỗi đau cá biệt, vì không một ngôn sứ nào đã để lại trong tài liệu viết của mình những thông tin liên quan đến đời sống mình nhiều như thế.[1] Thật vây, Giêrêmia được sinh ra trong một gia đình thuộc giới tư tế, định cư tại Anathốt (x. Gr 1, 1). Ông được Thiên Chúa chọn làm ngôn sứ, nhưng ông không hăng hái đón tiếng Chúa gọi, mà tìm cách thoái thác, viện cớ là mình còn quá trẻ (x. Gr 1, 4-10). Đức Chúa đã đặt lời của Người trên môi miệng của ông. Ông không thể thoái thác sứ vụ Đức Chúa trao mà chỉ còn biết đón nhận.[2] Từ đó sứ mạng ngôn sứ của Giêrêmia tràn ngâp đau khổ, khủng hoảng nhưng ông vẫn luôn trung thành với ơn gọi ngôn sứ của mình. Chính vì thế, Giêrêmia được gọi là ngôn sứ của đời sống tâm linh. Như vậy, qua bài tìm hiểu này, người viết sẽ trình bày kinh nghiệm tâm linh của Giêrêmia và từ đó áp dụng bài học tâm linh cho đời sống tu trì của bản thân.

  1. Bối cảnh xã hội và tôn giáo thời Giêrêmia

Giêrêmia sống trong một giai đoạn bi thảm của dân Ítraen, chứng kiến vương quốc Giuđa bắt đầu bị tàn phá cho đến khi sụp độ hoàn toàn. Ông thi hành sứ mạng ngôn sứ trong 3 đời vua trong vòng hơn 40 năm: thời vua Giôsigia (640-609 TCN), thời vua Giơhôgiakim (609-598) và thời vua Xítkigiahu (598-597).[3] Nhìn chung, thời các vua này, đời sống tôn giáo sa sút, dân chúng giữ đạo hình thức, người ta bỏ Đức Chúa mà đi thờ các thần ngoại bang, đời sống luân lý sa sút. Chính thời kỳ đen tối xã hội và tôn giáo đã đưa đến sự thất thủ của Giuđa, thành thánh và đền thờ Giêrusalem bị phái hủy, và dân phải đi lưu đày.

  1. Sứ mạng ngôn sứ đầy thăng trầm của Giêrêmia
    • Khủng hoảng nội tâm của Giêrêmia

Trước hết, chúng ta thấy hồi ký về ơn gọi của Giêrêmia (Gr 1, 4-19) cho thấy mâu thuẫn nội tâm giữa khuynh hướng tự nhiên của Giêrêmia và sứ mệnh mà Đức Chúa trao phó.[4] Giêrêmia là một người có tính tình hiền lành, đa cảm, dễ dàng rung động trước tình yêu. Ông sống độc thân và thích một cuộc đời yên tĩnh. Tất cả những đường nét về con người của Giêrêmia hoàn toàn trái ngược với sứ mạng mà ông phải đảm nhận.[5] Nhưng ông đã phải thốt lên: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh sức hơn con, và Ngài đã thắng” (Gr 20, 7). Như vậy, đây có thể coi là bước đầu của hành trình đêm tối và bi kịch trong tâm hồn của Giêrêmia trong sứ mạng ngôn sứ của ông.

Khủng hoảng nội tâm của Giêrêmia ngày càng nặng nề hơn, từ khi ông bắt đầu sứ vụ ngôn sứ cho đến cuối đời. Vì thập giá của ông, cụ thể là sứ mạng ngôn sứ mà ông mang, được chính Đức Chúa trao cho ông, cho dù không muốn đón nhận. Thập giá trở nên qua tải, một mặt, bởi sự gạt bỏ, chế nhạo, cô lập, bắt bớ, thù hận của chính những người thân của mình, bạn bè của mình, những người lãnh đạo của mình, và toàn cả xứ: “Con nghe biết bao người vu cáo: Kìa, lão Tứ phía kinh hoàng! hãy tố cáo, hãy tố cáo nó đi ! Tất cả những bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã” (Gr 20, 10). Và mặt khác, bởi vì Đức Chúa xem ra không giữ lời hứa ban đầu “ở cùng ông”.[6]

Đau khổ hơn nữa, Giêrêmia rất yêu quê hương đất nước của mình, mà không được cầu nguyện cho đồng bào (x. Gr 14, 11), cứ phải cổ võ sự thuận phục ngoại bang, để bị lên án là kẻ phản quốc (x. Gr. 20, 8; 38, 4). Ông không tin ai, ngay cả những người thân thích của ông (x. Gr 12, 6); khó hòa nhập với người ta, dù trong tang chế hay lễ hội (x. Gr 16, 5-9).[7] Thực vậy, Giêrêmia đã phải chịu giằng xé về nội tâm của mình, một đàng Đức Chúa quyến rũ ông, đàng khác ông phải chịu toàn là đau khổ, chống đối và đủ mọi thứ bách hại của người thân thiết của ông. Giêrêmia đã chán nản đến độ nguyền rủa chính ngày sinh và số phận của mình (x. Gr 20, 14-18). Người toan tính định từ bỏ sứ mạng ngôn sứ: “Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Ngài, cũng chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa” (Gr 20, 9a). Dường như ngôn sứ Giêrêmia cảm thấy mình bị bỏ rơi giữa những đau khổ trong sứ vụ ngôn sứ của mình, người cảm thấy mất hết niềm hy vọng.

  • Sức mạnh của Lời Chúa chữa lành tâm hồn Giêrêmia

Trong cuộc khủng hoảng nội tâm của mình, Giêrêmia đã được Lời Chúa soi dẫn giúp ông ý thức về tội lỗi của mình và sự yếu hèn về thân phận con người. Chính vì thế ông đã can đảm bày tỏ sự bất vâng phục của mình: “Tôi sẽ không nghĩ đến người, cũng chẳng nhân danh người mà nói nữa” (Gr 20, 9a). Nhưng chính Lời Chúa làm bừng cháy và chữa lành tâm hồn ông: “Nhưng Lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được” (Gr 20, 9b). Mặc dù đau khổ khiến cho Giêrêmia thất vọng và trách móc Đức Chúa. Thế nhưng, một khi Giêrêmia xác tín sức mạnh của Lời Chúa, nghĩa là tin tưởng Đức Chúa luôn hiện diện thì ông không còn sợ kẻ thù nữa: “Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con, như chiến sĩ oai hùng, vì thế những kẻ từng hại con sẽ phải thất bại và nhục nhã ê chề” (Gr 20, 11).

Như vậy, trong cuộc đời của ngôn sứ Giêrêmia, Lời của Đức Chúa là nhân tố chủ chốt, vừa là kẻ phá đám lại vừa là lẽ sống của ông, muốn ông phải đánh mất chính mình và xa lánh đồng loại, nhưng thật ra để đẩy ông chìm sâu vào thực tại. Trong những cuộc đối thoại nội tâm này, lời con người phải đương đầu với Lời Đức Chúa và kết thúc bao giờ Lời của Đức Chúa cũng thắng thế.[8]

  • Ý thức sâu xa về tội lỗi và trung thành với sứ mạng ngôn sứ

Giêrêmia cho người ta thấy rõ ý niệm sâu xa về tội lỗi (x. Gr 2, 20-28). Ông cảm thấy sầu khổ đến rạn nứt trái tim trước những đau thương của đồng bào, và môi miệng ông luôn thốt lên những lời cầu tha thiết xin Chúa cứu nguy họ. Tuy nhiên, tình thương đồng loại không ngăn cản được ông nói thẳng vào mặt họ về những tội lỗi liên miên. Không ai như Giêrêmia biết làm cho người ta thấy tội lỗi là ghê tởm, trái tim con người quá yếu hèn; không ai biết khẩn nài ơn thánh Chúa thiết tha bằng ông để con người được khỏi tội (x. Gr 17, 9-14).[9]

Bên cạnh đó, Giêrêmia luôn xác tín vào ơn gọi của mình và trung thành với sứ mạng ngôn sứ dù trong bất cứ nghịch cảnh nào, bởi vì “Niềm hy vọng của ông chính là Ngài” (Gr 17, 4). Như vậy, Giêrêmia cho chúng ta thấy rằng: Ngôn sứ là những con người của niềm tin. Họ không chỉ giảng thuyết về niềm tin mà đã sống niềm tin. Ngôn sứ chấp nhận tình trạng cô quạnh và đơn độc, ông chấp nhận sống kinh nghiệm của dân Thiên Chúa bị bách hại đau khổ, thử thách. Hơn nữa, dù kinh nghiệm về những thất bại luôn diễn ra, ngôn sứ không bao giờ đánh mất niềm hy vọng.[10]

  • Giao ước Mới – Niềm hy vọng của Ítraen (Gr 31, 31-34)

Nhờ kinh nghiệm sống thân mật với Thiên Chúa, Giêrêmia đã tiên báo một Giao ước mới. Giêrêmia mở ra một niềm hy vọng. Thiên Chúa không còn đoàn tuyệt với dân người. Người sẽ thay đổi số phận của họ.[11] Thực vậy, trong hành trình từ Ai cập trở về Đất hứa, Đức Chúa đã ký kết với dân Ítraen giáo ước tại Xinai. Tuy nhiên, Ítraen đã bất trung với giao ước với Thiên Chúa, mà đi thờ các thần ngoại bang. Chính vì thế, ngôn sứ Giêrêmia được ủy thác báo trước một Giao ước mới (x. Gr 31, 31-34) mà Đức Chúa sẽ thiết lập để thay thế Giao ước cũ đã bị Ítraen phá hủy.

“Giao ước mới” mà Đức Chúa đã thiết lập với Ítraen, cho chúng ta thấy tình thương và lòng thương xót của Ngài vô cùng, vô tận. Cho dù Ítraen đã nhiều phen bỏ Đức Chúa mà thờ các thần ngoại bang, nhưng Ngài vẫn luôn trung thành với Giao ước Xinai. Thực vậy, Giao ước mới sẽ không thể bị hủy bỏ, bởi vì chỉ một mình Thiên Chúa thiết lập. Chính Thiên Chúa sẽ in sâu vào trái tim con người sự hiểu biết và tình yêu của Người, mà không cần điều kiện gì, không giống như Luật trong Giao ước cũ được khắc trên hai tấm bia đá.

  1. Bài học tâm linh cho đời sống tu trì của bản thân
    • Ý thức ơn gọi tu trì đầy khó khăn nhưng tin luôn có Chúa đồng hành

Qua hành trình tâm linh đầy thăng trầm mà ngôn sứ Giêrêmia đã kinh qua, cho tôi những bài học quý giá về ơn gọi tu trì và sứ mạng ngôn sứ. Trước hết, Giêrêmia đã để lại bài học quý giá về hành trình theo Chúa và làm chứng cho Chúa không phải là một con đường dễ dãi, mà phải kinh qua những đau khổ thử thách, đắng cay và giằng xé bởi một sứ mệnh không thể thoái thác, nhưng Giêrêmia với niềm xác tín rằng ông không đơn côi trên con đường thập tự.

Đời sống ơn gọi theo Chúa đối với tôi ngày nay cũng thế, ơn gọi tu trì cũng đầy thăng trầm và bấp bênh, đôi khi gặp chống đối, những thách đố và những khó khăn, là một phần trong hành trình theo Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng đã tiên báo điều đó cho các môn đệ về cái giá phải trả khi bước theo Người, nhưng đồng thời Người cũng hứa sẽ không bỏ rơi các ông (x. Mt 10, 17-20). Thật vậy, là một tu sĩ, tôi xác tín rằng Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi tôi, Người sẽ luôn ở bên và củng cố đức tin của tôi cách này cách khác qua các dấu chỉ hằng ngày. Đời sống cầu nguyện, cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa hằng ngày là nguồn sức mạnh cho đời sống ơn gọi của tôi. Nguồn sức mạnh đó sẽ giúp tôi đương đầu thắng vượt trước những thăng trầm và thách đố trong đời sống ơn gọi theo Chúa.

  • Thi hành sứ mạng ngôn sứ qua việc triệt để sống ba lời khấn dòng

Trong “Tông huấn đời sống thánh hiến” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho chúng ta thấy rõ đặc tính ngôn sứ của đời thánh hiến, đó là: tham gia đặc biệt vào sứ vụ ngôn sứ của Đức Kitô, được Chúa Thánh Thần thông ban.[12] Thật vậy, ngôn sứ luận trong đời sống thánh hiến luôn phải đối đầu với ba thách đố lớn, liên quan đến các lời khuyên Phúc Âm: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Ý nghĩa sâu xa nhất của các lời khuyên Phúc Âm được vén mở khi được đặt trong tương quan tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa, nguồn mạch mọi sự thánh thiện. Các lời khuyên ấy diễn tả tình yêu Chúa Con đối với Chúa Cha trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần. Khi thực hành các lời khuyên ấy, người được thánh hiến sống năng động và vui tươi với tinh thần đặc trưng trong mầu nhiệm Ba Ngôi và Kitô, đánh dấu toàn thể đời sống Kitô hữu.[13]

Trước hết, xét về chiều kích ngôn sứ của đức vâng phục, tôi được mời gọi vâng phục Đức Kitô qua việc thi hành sứ mạng Ngài trao phó. Cụ thể, tôi được mời gọi vâng phục Đức Kitô qua việc phản ánh đời sống bất công của xã hội bằng chính đời sống tu trì của mình. Đặc biệt, bảo vệ những người bị áp bức và sống bên lề xã hội, chấp nhận tình cảnh của họ, và cùng với họ đấu tranh cho quyền lợi và sự giải phóng trong chân lý và bình an. Tiếp đến, xét về chiều kích ngôn sứ của đức khó nghèo, tôi được mời gọi sống tinh thần khó nghèo vì Nước Trời. Củ thể là loại bỏ tận căn chủ nghĩa thèm khát vật chất, thèm khát sở hữu và tránh xa thái độ sống dửng dưng với nhu cầu và nỗi đau khổ của những con người yếu đuối nhất. Cuối cùng, xét về chiều kích ngôn sứ của đức khiết tịnh, tôi được mời gọi sống độc thân vì Nước Trời. Tôi cố gắng tạo cho mình có một kỷ luật sống, quy hướng mọi khả năng tình cảm, ý chí và tình yêu Thiên Chúa vào việc phục vụ tha nhân. Như vậy, tính ngôn sứ của đời tu là một thách đố lớn đối với tôi. Tuy nhiên, được Thiên Chúa mời gọi, tôi được mời gọi sẵn sàng chống lại những lầm lạc chính yếu liên quan đến sở hữu, tình cảm và quyền lực trong đời sống thánh hiến.

Kết Luận

Ngôn sứ Giêrêmia là một mẫu gương tuyệt vời về sự trung thành với Đức Chúa trong sứ mạng ngôn sứ đầy thăng trầm. Người ta coi ông là vị ngôn sứ của khổ não, không chút ủi an. Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng ông không ngừng nêu cao lòng cậy trông sắt son vào sự cứu trợ của Thiên Chúa, và luôn hy vọng một ngày mai tươi sáng.[14] Chính đời sống cầu nguyện kết hợp mật thiết với Đức Chúa, đã khắc ghi trong tâm hồn ông một đời sống thần nhiệm sâu sắc, giúp Giêrêmia vượt thắng mọi gian nan thử thách trong hành trình sứ mạng ngôn sứ. Do đó, khi phân tích kinh nghiệm tâm linh của ngôn sứ Giêrêmia từ góc độ linh đạo Cát Minh, chúng ta tìm thấy có những điểm gặp gỡ chung giữa vị ngôn sứ ngày với tổ phụ tinh thần của Dòng Cát Minh, ngôn sứ Êlia. Đời sống nội tâm của hai ngôn sứ được đan dệt bởi sức mạnh của niềm tin, phó thác và hy vọng qua sự kết hợp liên lỉ với Thiên Chúa trong thái độ cầu nguyện sốt mến, nồng cháy và thân tình. Lửa mến trong hai vị làm nên nét độc đáo trong cách thức các ngài hoàn thành sứ mạng Chúa trao phó.

Từ lối sống ưu tiên chìm sâu trong cầu nguyện với mọi chiều kích sinh hoạt đời sống Cát Minh để hun đúc lửa nhiệt thành tông đồ, chúng ta được mời gọi sống mầu nhiệm ngôn sứ: hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa và can đảm thi hành sứ mạng Ngài trao phó, cho dù có những giây phút chán nản, thất vọng và cô đơn. Cầu nguyện, trước tiên là thái độ của ơn gọi làm ngôn sứ, vì đó là nơi riêng tư chúng ta gặp gỡ thân mật, lắng nghe và thực thi điều Thiên Chúa muốn.

 

Tài Liệu Tham Khảo

Bernard Phạm Hữu Quang, Pss., bs: giới thiểu Ngôn Sứ Thánh Kinh: trào lưu Ngôn Sứ, bản văn, con người và sứ điệp. Tp. HCM: Đồng Nai, 2022.

Fx Vũ Phan Long OFM, Các Sách Ngôn Sứ, Giêrêmia. Tp. HCM: Đồng Nai, 2021.

Gioan Phaolô II: Vita Conserata – Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến.

Giuse Phạm Quốc Văn, OP: Thần Học Tâm Linh, 2019.

Inhaxiô Nguyễn Ngọc Rao, O.P: Các Sách Ngôn Sứ, 2006.

Kinh Thánh, Bản dịch của nhóm CGKPV. Hà Nội: Tôn giáo, 2011.

Kinh Thánh Cựu Ước, Các Sách Ngôn Sứ: Sách Giê-rê-mi-a, bản dịch để học hỏi. Hà Nội: Tôn  Giáo, 2021.

Sứ vụ ngôn sứ hôm nay – Lm. Nguyễn Trọng Viễn O.P (nguyentrongvien.blogspot.com). Truy cập ngày 19/11/2022.

[1] X. Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, Pss., bs: Giới thiểu Ngôn Sứ Thánh Kinh: trào lưu Ngôn Sứ, bản văn, con người và sứ điệp, tr. 673.

[2] X. Kinh Thánh Cựu Ước, Các Sách Ngôn Sứ: Sách Giêrêmia, bản dịch để học hỏi, tr. 11.

[3] X. Fx Vũ Phan Long OFM, Các Sách Ngôn Sứ, Giêrêmia, tr. 138.

[4] X. Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, Pss., bs: Giới thiểu Ngôn Sứ Thánh Kinh: trào lưu Ngôn Sứ, bản văn, con người và sứ điệp, tr. 673.

[5] X. Sứ Vụ Ngôn Sứ Hôm Nay – Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, O.P (nguyentrongvien.blogspot.com).

[6] X. Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, Pss., bs: Giới thiểu Ngôn Sứ Thánh Kinh: trào lưu Ngôn Sứ, bản văn, con người và sứ điệp, tr.761.

[7] X. Kinh Thánh Cựu Ước, Các Sách Ngôn Sứ: Sách Giêrêmia, bản dịch để học hỏi, tr. 13.

[8] X. Ibid.,  tr. 13-14

[9] X. Lm. Inhaxiô Nguyễn Ngọc Rao, O.P: Các Sách Ngôn Sứ (2006), tr. 202.

[10] X. Giuse Phạm Quốc Văn, OP: Thần Học Tâm Linh, 2019, tr. 60.

[11] X. Fx Vũ Phan Long OFM, Các Sách Ngôn Sứ, Giêrêmia, tr. 146.

[12] X. Gioan Phaolô II, Tông Huấn, Đời Sống Thánh Hiến, số 84.

[13] X. Ibid., số 21.

[14] X. Lm. Inhaxiô Nguyễn Ngọc Rao, O.P: Các Sách Ngôn Sứ (2006), tr. 203.

Check Also

Mái ấm Từ Tâm – sự hiện diện của Giáo Hội

Chúng ta vẫn thường nghe người đời kháo nhau về cụm từ “Văn minh tình …