“NẾU ĐỨC CHÚA LÀ THIÊN CHÚA, HÃY THEO NGƯỜI”
VAI TRÒ CỦA NGÔN SỨ TRONG MỘT XÃ HỘI TƯƠNG ĐỐI HÓA CHÂN LÝ
Lm. Phêrô Phạm Trọng, O.Carm.

Dẫn nhập
Trong tông huấn Bác Ái Trong Chân Lý, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã đề cập đến thực trạng xã hội ngày nay là một xã hội “đang tương đối hóa chân lý, ít quan tâm đến chân lý và có thái độ ngần ngại, lẩn tránh chân lý”.[1] Quả thế, ngày nay, trước những giá trị cụ thể của khoa học kỹ thuật, người ta dễ tin vào khoa học kỹ thuật hơn là vào Thiên Chúa. Họ dễ bị nhầm lẫn giữa các giá trị bền vững và cốt lõi với những giá trị chóng qua. Nhiều người có xu hướng sống tương đối, không còn có khả năng nhận ra đâu là vị Thiên Chúa đích thực, đâu là nguồn mạch đích thực của mọi sự thiện hảo. Đây quả là một thách đố rất lớn cho những người sống đời sống đức tin. Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu về xu hướng sống tương đối chân lý trong xã hội cũng như những nguy hại của nó đối với đời sống đức tin của người Kitô hữu, cách mà ngôn sứ Êlia đối diện với lối sống tương đối của dân Ítraen và từ đó rút ra một khuôn mẫu cho người tu sĩ Cát Minh sống căn tính ngôn sứ của mình trong một xã hội tương đối hóa chân lý.
Tương đối hóa chân lý
Chủ nghĩa tương đối là luồng tư tưởng xuyên suốt nhiều thế kỷ từ thời cổ Hy lạp, trong đó nhiều học thuyết khác nhau, cùng bảo vệ luận đề là ý nghĩa và những giá trị của niềm tin và của những thái độ nhân linh không có những quy chiếu tuyệt đối siêu việt.[2] Những người theo chủ nghĩa tương đối quan niệm rằng: “Mọi chân lý đều tương đối”. Triết gia Protagoras (485-411 TCN) cho rằng sự thật tùy thuộc ở nhận thức của mỗi người. Một điều có là chân lý hay không là tùy thuộc vào sự nhận định của mỗi cá nhân. Theo đó, chẳng có chân lý nào có giá trị vĩnh cữu và phổ quát cả.
Đây là một quan niệm vô cùng nguy hại trong đời sống đức tin và đã bị Giáo hội lên án. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI khi còn là hồng y đã chỉ ra sự thất bại của chủ nghĩa tương đối trong bài giảng Thánh Lễ khai mạc mật nghị bầu Giáo Hoàng năm 2005 như sau:
Ngày nay, việc có một đức tin rõ ràng dựa trên Kinh Tin Kính của Hội Thánh lại thường bị dán nhãn hiệu là bảo thủ. Đang khi đó, chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để mình “bị sóng đánh trôi dạt theo mọi chiều gió đạo lý” (x. Ep 4,14) xem ra lại được coi là thái độ phù hợp nhất với thời đại. Người ta đang xây dựng thứ độc tài của chủ nghĩa tương đối vốn không nhìn nhận bất cứ điều gì là vững vàng, và mục đích tối hậu của nó chỉ là cái tôi và ước muốn ích kỷ của bản thân.[3]
Chủ trương tương đối chân lý là biểu hiện của sự ngần ngại, lẫn tránh chân lý, một thái độ nửa vời, dễ dãi trong lối sống, không cần phải sống hết mình, cũng chẳng sợ bị chê trách. Francis J. Beckwith và Gregory Koukl, trong cuốn Relativism: Feet Firmly Planted in Mid–Air (Chủ nghĩa tương đối: Đôi Chân Đứng Vững Vàng Giữa Không Trung), đưa ra bảy nguy hại lớn của chủ nghĩa tương đối như sau: Người chủ trương tương đối không thể nói đến bất công hay bất toàn; không thể kết tội người khác làm sai; không thể than phiền về vấn đề sự dữ; không thể nguyền rủa, cũng không thể ca tụng ai; không thể tiến triển về mặt đạo đức; không thể bàn chuyện luân lý cách nghiêm túc; không thể nói đến sự khoan dung.[4]
Chủ trương tương đối chân lý làm cho đời sống đức tin trở nên hời hợt và không thể tiến xa được. Trong một xã hội chủ trương sống tương đối theo kiểu “đạo nào cũng tốt”, “đạo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành”, thì mọi giá trị Tin Mừng cũng chỉ mang tính tương đối. Khi người ta đánh đồng mọi giá trị với nhau thì cũng có nghĩa là chẳng có giá trị nào thực sự giá trị, chẳng có giá trị nào đáng để họ phải đánh đổi để đạt tới.
Hành trình theo Đức Kitô là hành trình hướng tới Tuyệt Đối. Hành trình này đòi buộc người Kitô hữu phải quyết liệt từ bỏ tất cả những giá trị trái ngược với Tin Mừng. Chúa Giê-su khẳng định, “Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Lc 16, 13). Ngài mời gọi các môn đệ trở nên hoàn thiện như Cha trên trời (X. Mt 5,48). Thái độ sống tương đối là thái độ không phù hợp với tư cách của người môn đệ Đức Kitô. Thiên Chúa không chấp nhận một kẻ hâm hẩm, không nóng không lạnh, “bởi vì ngươi hâm hẩm, không lạnh không nóng, nên Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta”(Kh 3,15-16).
Ngôn sứ Êlia đối diện với lối sống tương đối trong Đức Tin của dân Ítraen
Ítraen dưới thời Vua A Kháp được hưởng sự yên ổn về chính trị, thịnh vượng về kinh tế. Tuy nhiên, đời sống đức tin của họ bị khủng hoảng nặng nề.[5] Giống như những vua trước, vua A Kháp đặt lợi ích chính trị, kinh tế lên trên niềm tin tôn giáo. Ông không chú tâm bảo vệ niềm tin độc thần của Ítraen, mặc khác, còn tiếp nhận những nhóm dân ngoại cùng với tôn giáo của họ vào trong vùng đất của mình. Hơn nữa, việc vua A kháp cưới công chúa Idaven, con vua Xiđôn, đã để lại một hậu quả nặng nề trên tôn giáo truyền thống của Ítraen. Hoàng hậu Ideven đã khởi xướng một cuộc bách hại đẫm máu nhắm vào các ngôn sứ của Thiên Chúa, cho lập nhiều bàn thờ thần Baan và Áttôrét.[6] Vì vậy, dân Ítraen đã buông theo những hình thức cúng bái các thần dân ngoại. Dân chúng trở nên xa rời với niềm tin độc thần của mình. Họ không còn khả năng phân biệt đâu là Thiên Chúa thật. Dân Ítraen nhận ơn lành từ Thiên Chúa, nhưng lại đi tạ ơn và khấn vái những thần khác. Cùng lúc, họ sụp lạy các ngẫu tượng cùng với Thiên Chúa duy nhất của cha ông họ.
Trước sự mù quáng của dân Ítraen, ngôn sứ Êlia đã can đảm ra đi làm chứng cho Thiên Chúa. Êlia là một vị ngôn sứ bừng cháy lửa nhiệt thành. Ông không thể ngồi yên khi thấy triều đình và dân chúng chạy theo các thần của dân ngoại. Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh đã nung nấu ông (X. 1V 19: 10). Ông mạnh mẽ lên án thái độ nước đôi của dân Ítraen. Trên núi Cát Minh, Êlia đã yêu cầu dân Ítraen phải đưa ra một lựa chọn dứt khoát, hoặc là chọn Chúa hoặc là chọn Baan: “Các ngươi nhảy khập khiểng hai chân tới bao giờ? Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Baan, cứ theo nó” (1V 18:20). Cũng tại đây, Êlia đã tỏ cho dân thấy quyền năng của Đức Chúa, Thiên Chúa đích thực. Đồng thời, ông chỉ cho dân thấy rõ sự hư ảo của các thần dân ngoại. Nhờ đó mà dân Ítraen đã vui mừng trở về với Thiên Chúa đích thực của mình.
Căn tính ngôn sứ của tu sĩ Cát Minh
Đối với mỗi người Kitô hữu, vai trò ngôn sứ là một trong ba chiều kích (Tư tế, Ngôn sứ, Vương đế) mà họ nhận lãnh khi chịu phép rửa tội. Rao truyền Lời của Chúa cho người khác là trách nhiệm của mỗi Kitô hữu. Tuy nhiên, tu sĩ Cát Minh được mời gọi để sống cách mãnh liệt hơn chiều kích ngôn sứ này.
Chiều kích ngôn sứ là một đặc sủng của tu sĩ Cát Minh. Các vị ẩn sĩ đầu tiên trên núi Cát Minh đã được gợi hứng bước theo và phụng sự Chúa trong tinh thần của vị ngôn sứ Êlia. Hình ảnh ngôn sứ Êlia trong Hiến Pháp dòng Cát Minh là một vị ngôn sứ “dấn thân vào đời sống của dân chúng, và là người, bằng cuộc chiến chống lại những tà thần, đã đưa dân trở về sống trung thành với Giao Ước của họ đối với Thiên Chúa duy nhất.”[7] Trải qua chiều dài lịch sử hơn 800 năm, căn tính ngôn sứ của người tu sĩ Cát Minh luôn được thể hiện cách mạnh mẽ trong những bối cảnh lịch sử cụ thể. Có những lúc tinh thần ngôn sứ đó được thể hiện bằng một cuộc sống bình thường trong sự cô tịch như Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Tuy chỉ ở trong bốn bức tường của tu viện, gương đời sống đơn sơ của thánh nhân đã vang dội và gợi hứng biết bao nhiêu linh hồn nhận ra Chúa. Tinh thần ngôn sứ đó có lúc lại được diễn tả bằng sự dấn thân mạnh mẽ vào đời sống xã hội. Một trong những gương mẫu đó là Chân phước Titus Branmas. Ngài đã can đảm lên tiếng bênh vực những nạn nhân của chế độ độc tài Phát xít Đức bằng ngòi bút của mình. Ngài đã đồng hành với những người bị áp bức cho đến cùng và hy sinh mạng sống mình vì họ.
Trước những thách đố cụ thể của thời đại này, các tu sĩ Cát Minh cũng được mời gọi để sống căn tính ngôn sứ cách cụ thể và phù hợp với những thách đố trong xã hội mình đang sống.
Noi gương ngôn sứ Êlia, tu sĩ Cát Minh sống căn tính ngôn sứ của mình trong một xã hội tương đối hóa chân lý
Trong một xã hội theo chủ nghĩa tương đối, tu sĩ Cát Minh, những người sống tinh thần ngôn sứ Êlia, cũng phải can đảm sống căn tính ngôn sứ của mình bằng cách chỉ ra cho con người thời đại này đâu là ngẫu tượng và đâu là Thiên Chúa đích thực đáng để tôn thờ. Để thực hiện chức năng ngôn sứ của mình, người tu sĩ Cát Minh được mời gọi sống trung thành theo bước Đức Kitô, rao truyền sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa bằng lời nói, và trở nên dấu chỉ về sự hiện diện của Chúa cho con người của thời đại này bằng những hành động cụ thể.
- Một đời sống trung thành bước theo Đức Kitô
Chức năng của ngôn sứ là thông truyền Lời của Chúa cho dân chúng. Tuy nhiên, nhiệm vụ đó phải được khởi đi từ chính đời sống của vị ngôn sứ. Để có thể nói Lời Chúa cho dân, vị ngôn sứ phải là người sống Lời đó trước. Lời chứng tốt nhất không nằm ở lý lẽ thuyết phục của nó nhưng chính là một đời sống không mâu thuẫn của người rao truyền lời đó.
Quả vậy, ngôn sứ Êlia đã sống một đời sống trung thành với Thiên Chúa và lề luật của Người cách trổi vượt. Tên gọi Êlia ( אֵלִיָּ֨הוּ) có nghĩa là Thiên Chúa của tôi là Đức Chúa. Đúng với danh xưng của mình, ngôn sứ Êlia đã phụng sự Đức Chúa với tất cả khả năng và lòng nhiệt thành của mình, kể cả khi sự nhiệt thành đó gây cho ông biết bao gian nan, thù ghét (X. 1V 18: 17; 19:1-4). Trong khi dân chúng đã bỏ Chúa mà thờ thần Baan, các ngôn sứ khác thì bị sát hại, ngôn sứ Êlia vẫn trung thành với Thiên Chúa của mình (X. 1V 19:14). Một đặc tính quan trọng của một vị ngôn sứ là ngôn hành phải thống nhất. Không chỉ nơi Êlia, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy đặc tính này nơi các ngôn sứ khác. Chẳng hạn, ngôn sứ Êdêkien đã phải chấp nhận không làm đám tang, không than khóc khi vợ ông chết vì trước đó ông đã truyền cho dân mệnh lệnh của Đức Chúa rằng họ không được than khóc hay để tang người chết (X. Êd 24:15-18). Hay ngôn sứ Hôsê đã chấp nhận cưới một cô gái điếm theo lệnh của Đức Chúa để ông có thể rao giảng cho dân Ítraen về sự đàng điếm và bất trung của họ đối với Thiên Chúa (X. Hs 1:2). Qua đây, chúng ta thấy, việc sống chính lời rao giảng của mình là điều kiện tiên quyết mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi vị ngôn sứ của Ngài.
Để có thể sống đời sống ngôn sứ của mình, Tu sĩ Cát Minh được mời gọi sống trung thành theo Đức Kitô và phục vụ Ngài với một con tim không chia sẻ.[8] Nghĩa là, người tu sĩ Cát Minh phải dâng hiến trọn vẹn cả con người để bước theo và phụng sự thầy Giê-su. Tu sĩ Cát Minh phải để Lời Chúa đồng hành với mình trong tất cả những việc họ làm.[9] Bước theo Đức Kitô là một lựa chọn dứt khoát, vì: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không xứng làm môn đệ thầy”(Lc 9:62). Hành trình Cát Minh đòi buộc người tu sĩ phải quyết liệt từ bỏ những gì trái ngược với Thiên Chúa. Qua đời sống trung thành bước theo Đức Kitô, tu sĩ Cát Minh trở nên lời chứng sống động cho người khác. Với hoa trái thiêng liêng là sự bình an, vui tươi, hiếu hòa, bác ái, tu sĩ Cát Minh chứng tỏ cho người khác thấy chính Thiên Chúa là Chúa đích thực chứ không phải là vinh hoa, thắng lợi, hay của cải vật chất.
- Nói về Chúa cho con người ở thời đại này
Nhiệm vụ rao truyền sứ điệp của Thiên Chúa cho dân là nhiệm vụ quan trọng nhất của một vị ngôn sứ. Việc làm cho sứ điệp Lời Chúa đến được với con người trong xã hội ngày nay là điều cấp bách. Một trong những nguyên nhân khiến người ta thiếu niềm tin vào Chúa không phải vì Ngài không đủ “hấp dẫn” nhưng là vì phần lớn con người thời đại ngày nay không được nghe biết về Chúa cách đầy đủ. Thánh Phaolô thật có lý khi nói: “Làm sao họ tin được Ðấng họ không nghe nói tới? Nhưng nghe thế nào được, nếu không có người rao giảng?”(Rm 10:11-12). Quả vậy, để Lời Chúa đến được với được với dân thì cần có những sứ giả nhiệt thành ra đi rao giảng Lời ấy.
Với vai trò ngôn sứ của mình, tu sĩ Cát Minh phải là những người luôn nói Lời Chúa cho người khác. Không dừng lại ở đó, việc tìm những cách thức phù hợp để rao giảng Lời Chúa trong bối cảnh xã hội hiện tại là điều các tu sĩ Cát Minh cần lưu ý. Điều này không chỉ nằm ở phương pháp rao giảng mà còn liên quan đến nội dung rao giảng. Người tu sĩ Cát Minh cần có được sự nhạy cảm cần thiết trước những nhu cầu, khao khát tâm linh của con người thời nay hầu có thể trình bày cho họ một hình ảnh sống động và chân thực nhất về Thiên Chúa. Quả thực, khuôn mặt của vị ngôn sứ phải được định hình bởi chính những nhu cầu của cộng đồng mà ngôn sứ đó được sai đến. Trong một xã hội đang đối diện với những biến động, đau thương thì hình ảnh về một Thiên Chúa giàu lòng thương xót cần được loan báo. Trong một xã hội tương đối hóa tất cả các giá trị chân lý thì cần phải loan báo về một Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ, là nguồn mạch duy nhất của mọi sự thiện hảo. Như ngôn sứ Êlia đã đến với dân Ítraen với một thông điệp rất cụ thể: “chính Đức Chúa là Thiên Chúa”.
Người môn đệ của Đức Kitô được mời gọi “hãy lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”(2Tm 4:2). Nghĩa là phải loan báo Tin Mừng Nước Trời mọi nơi mọi lúc, kể cả trước những nguy cơ bị bách hại. Quả thật, ngôn sứ là những người luôn phải đối diện với sự chống đối, loại trừ và bách hại. Bởi họ là những người dám nói sự thật và dám đi ngược dòng đời. Vì thế, lòng nhiệt thành và can đảm là những điều cần thiết đối với một vị ngôn sứ. Tuy nhiên, họ cũng được mời gọi phải biết khôn khéo và thận trọng trong lời nói cũng như hành động, “Anh em hãy khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”(Mt 10:16).
- Trở nên dấu chỉ về sự hiện diện của Chúa
Ngôn sứ không sống và hành động để lôi kéo người khác về phía mình nhưng đúng hơn, họ là những trung gian nhằm giúp người khác đến với Chúa. Qua lời nói, hành động, và cả chính sự hiện diện của mình, ngôn sứ Êlia đã trở nên dấu chỉ về sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa do dân Ítraen. Trước mặt vua A kháp, ngôn sứ Êlia đã cho vua thấy một ngôn sứ của Thiên Chúa còn uy lực hơn tất cả các thần của dân ngoại khi ông đóng cửa trời trong ba năm sáu tháng khiến mặt đất khô cằn trên toàn cõi Ítraen. Trên núi Cát Minh, ngôn sứ Êlia đã cho dân Ítraen thấy quyền năng và sự hiện diện thực sự của Chúa ở giữa họ qua hy lễ bốc cháy (X. 1V 18: 20-40).
Noi gương người cha tinh thần của mình, tu sĩ Cát Minh phải luôn là dấu chỉ về tình yêu và lòng thương xót của Chúa cho những người họ gặp gỡ. Như ngôn sứ Êlia đã mang bình an, niềm vui và sự tràn đầy cho gia đình bà quá người Xarépta trước sự hoành hành của nạn đói (X. 1V 17:7-24), tu sĩ Cát Minh cũng được mời gọi mang niềm vui, bình an, sự tràn đầy tới những nơi họ được sai đến. Qua đời sống kết hiệp liên lỉ với Chúa, tu sĩ Cát Minh giữ cho khu vườn tâm hồn của mình luôn chan chứa nguồn nước. Để rồi, họ có thể trao ban những hoa trái thánh thiện của lòng mình cho người khác, bằng cách đó, họ trở nên dấu chỉ về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.[10]
Kết Luận
Tu sĩ Cát Minh là những người sống căn tính ngôn sứ của mình theo gương ngôn sứ Êlia. Trong một xã hội nơi mà những người sống đức tin đang đối diện với nhiều thách đố bởi xu hướng sống tương đối, các tu sĩ Cát Minh là những người cần thực thi vai trò ngôn sứ của mình cách cụ thể nhất. Họ được mời gọi để trình bày cho con người trong xã hội ngày nay hình ảnh của một Thiên Chúa đích thực bằng cách: sống một đời sống trung thành theo bước Đức Kitô, rao giảng về Chúa cho người khác và trở nên dấu chỉ về sự hiện diện của Chúa cho người khác.
[1] Bênêđictô XVI, Tông Huấn Bác Ái Trong Chân Lý (Caritas in Veritate), số 2, bản dịch của UB. Giáo Lý Đức Tin (2009).
[2] Nguyễn Mạnh Tuyên, Chủ Nghĩa Tương Đối Và Tình Yêu Mục Tử, truy cập ngày 22/9/2020, http://www.simonhoadalat.com/hochoi/giaohoi/thuonghuan/thuonghuan2009/04chunghiatuongdoi.htm.
[3] J. Ratzinger, Homily in the “Missa pro eligendo Romano Pontifice”, in Acta Apostolicae Sedis (AAS) 97 [2005] 685–689, trích lại từ: Thiên Triệu “Tác động của chủ nghĩa tương đối trên giới trẻ” Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, số 84 (tháng 9 & 10 năm 2014).
[4] X. Francis J. Beckwith và Gregory Koukl, Relativism: Feet Firmly Planted in Mid–Air (1998), trích lại từ: Thiên Triệu “Tác động của chủ nghĩa tương đối trên giới trẻ” Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, số 84 (tháng 9 & 10 năm 2014).
[5] X. Lời Chúa Cho Mọi Người, nhóm CGKPV (2006), phần chú thích, tr. 511.
[6] X. Ibid.
[7] Hiến pháp dòng Cát Minh, số 26.
[8] X. Luật Dòng Cát Minh, chương 2.
[9] X. Luật Dòng Cát Minh, chương 19.
[10] X. Têrêxa Avila, Tiểu sử tự thuật, Kinh Đô Ấn Quán: Texas (1999) tr. 80, 96.
Dòng Cát Minh Việt Nam Sống Trung Thành Theo Đức Kitô