
(Tiếp phần I)
Xem phần I tại đây
Đức Vâng Phục Theo Thánh Têrêsa
Trước hết, có thể nói rằng đức vâng phục đóng vai trò nền tảng trong sự hiệp nhất của Giáo Hội. Khi Chúa long trọng đặt Thánh Phêrô làm đầu Giáo Hội và giao phó đàn chiên cho ngài, Chúa đòi hỏi không chỉ tình yêu của Phêrô mà còn, và trước hết, sự vâng phục của ngài. Khi trao chìa khoá nước trời cho Phêrô (x. Mt 16, 19), Chúa không chỉ đòi hỏi sự từ bỏ ý muốn riêng của ngài để phục tùng thánh ý Chúa, mà còn cho thấy Chúa mong muốn Giáo Hội của Người được cai trị và hướng dẫn như thế nào: Phêrô và những người kế vị ngài sẽ là biểu tượng cho sự hiệp nhất hữu hình của Hội Thánh (x. Lumen Gentium, s. 23). Vì thế, vâng phục là điều kiện tiên quyết để giữ gìn sự hiệp nhất. Chỉ nhờ sự vâng phục Thiên Chúa và ân sủng của Ngài đã được ban cho Giáo Hội, chúng ta mới tìm thấy sự hiệp nhất để Giáo Hội thực thi thánh ý Chúa một cách trọn vẹn.
Thánh Têrêsa có lẽ là người hiểu được điều này hơn ai hết. Ngài cho rằng điều quan trọng nhất trong cuộc đời là thực thi thánh ý Chúa, vì vậy một cuộc đời hoàn thiện nhất là cuộc đời mà nơi đó thánh ý Chúa được thực hiện trọn vẹn nhất. Vì vậy vâng phục là con đường nhanh nhất để nên hoàn thiện vì thánh ý Chúa được thể hiện nơi những người thay mặt Chúa.[1] Chúa nói “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc 10:16), nên vâng phục các ngài là vâng phục Thiên Chúa. Rõ ràng, vâng phục tự nó không phải là mục đích, nhưng là một con đường để qua đó chúng ta đạt được mục đích tối hậu là để thánh ý Chúa được thực hiện trọn vẹn nơi chúng ta. Đức vâng phục, đối với Têrêsa, nghĩa là bắt ý riêng của chúng ta phải quy phục trước thánh ý Chúa. Trong khiêm tốn, chúng ta phó dâng bản thân cho sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua của những vị mà Người cất nhắc lên trên chúng ta.[2]
Không như Luther, người đã chủ trương bất phục tùng Huấn Quyền, (1) Têrêsa ủng hộ mạnh mẽ Giáo Hoàng và các vị lãnh đạo Giáo Hội và cam kết tuân phục các ngài trong mọi sự. (2) Thêm vào đó, thánh nhân quyết tâm tuân thủ tuyệt đối những quy định và giới luật của Giáo Hội. (3) Têrêsa đặt sự vâng phục lên hàng ưu tiên và truyền cho những người đi theo ngài cũng sống vâng phục hầu cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội được bảo toàn.
Trước hết, Thánh Têrêsa nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc tuân phục quyền bính của Đấng đại diện Chúa Kitô là Đức Giáo Hoàng đến các các vị lãnh đạo Giáo Hội và các vị bề trên. Ngài xem đây là một cam kết không thể thương lượng trong nỗ lực sửa chữa lại sự bất tuân phục đối với Huấn Quyền của bè phái Luther. Thật vậy, đối với Luther, không cần phải vâng phục một tên Phản Kitô, là người mang quyền bính Giáo Hoàng.[3] Hành động bất tuân công khai đầu tiên của ông là đốt bỏ sắc chỉ “Exsurge Domine”[4] của Đức Giáo Hoàng Leo X (1513-1521) cùng với một luận văn chống lại sắc chỉ ấy với tựa đề “Chống Lại Sắc Chỉ Bỉ Ổi Của Tên Phản Kitô.” Đối lập với Luther, Têrêsa xem việc vâng phục quyền bính của Giáo Hội là vâng phục chính Chúa, vì Chúa Giêsu đã khẳng định “Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy” (Lc 10:16). Như vậy, thánh nữ tin rằng Chúa Giêsu hành động qua Đấng Đại Diện Ngài ở trần gian, là Giáo Hoàng và các vị lãnh đạo Giáo Hội mà Ngài đã trao quyền để thăng tiến vương quốc của Thiên Chúa, nên nếu ai đó từ chối tuân phục các ngài là từ chối tuân phục Chúa.
Thánh Têrêsa đã trung thành thực hiện cam kết này trong suốt cả cuộc đời của ngài. Thánh nữ đã ra sức khuyên dạy các nữ tu vâng phục các bề trên như vâng phục chính Chúa vậy. Ngài tin rằng “lời bề trên là lời Chúa vì bề trên thay mặt Chúa”[5] nên đối với ngài, nếu một tu sĩ không có đức vâng phục thì không phải là tu sĩ. Sự tôn trọng của Têrêsa đối với hàng giáo phẩm của Giáo Hội đòi hỏi phải vâng phục cha giải tội của ngài nữa. Ngay cả khi có xung đột giữa các lệnh truyền mà ngài nhận được từ Chúa và cha giải tội, thì Chúa luôn ra lệnh cho ngài vâng lời bề trên trần thế.[6]
Sự vâng phục hoàn toàn Huấn Quyền và các đấng bề trên cũng giúp Thánh Têrêsa dễ dàng tuân thủ tuyệt đối những quy định và giới luật của Giáo Hội. Điều này hoàn toàn trái ngược với chọn lựa của Luther, người đã chối bỏ gần như mọi giáo huấn và truyền thống hàng ngàn năm của Giáo Hội. Ông ta còn nhạo báng luật độc thân giáo sĩ, đòi chấm dứt nhiều việc tôn sùng mà ông cho là mê tín như vai trò trung gian chuyển cầu và lòng sùng kính dành cho Đức Maria và các thánh. Ông ta đòi bãi bỏ luật độc thân linh mục, coi các bí tích là không cần thiết.[7] Bất đồng với quan niệm của phái Luther, Thánh Têrêsa dấn thân trong sự vâng phục giáo huấn Giáo Hội trong tư cách là một tu sĩ. Ngài sẵn sàng đón nhận các giáo huấn và thực hành truyền thống của Giáo Hội: sùng kính Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, tôn kính các ảnh tượng thánh, tuyên xưng những gì Hội Thánh dạy, và đặc biệt không bao giờ đặt câu hỏi về các kỷ luật bí tích của Giáo Hội cùng những sắc lệnh mà Toàn Thánh ban hành.[8] Một ví dụ cụ thể, các tác phẩm của Têrêsa luôn tuân thủ nghiêm ngặt giáo huấn của Hội Thánh và ngài hoàn toàn trao phó số phận của những trang viết ấy vào thẩm quyền phán xét của Giáo Hội.
Không dừng lại ở sự tuân phục cá nhân, Têrêsa luôn dạy các nữ tu của ngài và những người đi theo ngài phải luôn cam kết sống vâng phục và lan tỏa tinh thần ấy đến mọi thành phần của Giáo Hội nhằm duy trì sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Trong thời đại của Têrêsa, sự hiệp nhất này bị đe dọa nghiêm trọng khi chủ trương của Luther bành trướng thành một hệ thống rộng lớn và thu hút nhiều hạng người kể cả các lãnh chúa, các linh mục, các tu sĩ, các thần học gia và rất nhiều giáo dân. Với một tâm hồn yêu mến Giáo Hội và một bộ óc tinh tế khôn ngoan, Têrêsa sớm nhận ra nguy cơ này và sau này chính Chúa đã cho ngài nhìn thấy “vô số linh hồn phải trầm luân, cách riêng là những người thuộc phái ly giáo Luther.”[9] Để giảm thiểu hậu quả khủng khiếp do phong trào cải cách Luther gây ra, Têrêsa không dừng lại ở việc giữ luật vâng phục một cách cá nhân nhưng dạy các nữ tu và những người bước theo con đường của ngài phải trung thành sống và thực hành nhân đức này luôn mãi. Trong tác phẩm The Book of the Foundation (tạm dịch: Sách Các Nền Tảng), Têrêsa đề cập đến nhân đức ‘vâng phục’ bảy mươi hai lần, đó là chưa kể đến hàng trăm lần khác trong nhiều tác phẩm khác. Điều này chứng tỏ, đối với ngài, hơn bao giờ hết, đức vâng phục thật sự cần thiết để sữa chữa lại những sự dữ mà bè phái Luther gây ra. Không những thế, đây cũng là con đường chắc chắn dành cho những tâm hồn khao khát nên hoàn thiện.
Hoa Trái Của Đức Vâng Phục
Với lập trường sống vâng phục một cách triệt để, đặc biệt là đối với Huấn Quyền của Hội Thánh, Têrêsa nhận thấy rằng ngài được Thiên Chúa ban cho rất nhiều ơn trọng đại trong sứ mạng cải tổ Dòng Cát Minh cũng như trên đường nên thánh. Ngài xác quyết rằng “ai lỗi đức vâng phục thì không bao giờ đạt được sự chiêm niệm và cũng chẳng là một người hoạt động tốt.”[10] Chính Chúa đã nói với ngài: “Con ơi, đức vâng phục mang lại sức mạnh.”[11] Thật vậy, đức vâng phục chính là sức mạnh đã giúp Thánh Têrêsa thành công trong công cuộc cải tổ Dòng Cát Minh và hoa quả cải tổ ấy vẫn tiếp tục trổ sinh trong lòng Giáo Hội cho tới nay. Thiên Chúa đã chúc lành và cho ngài thành công thành lập được mười bảy tu viện và đã thu hút rất đông số ơn gọi bước theo con đường cải tổ của ngài. Nhiều học giả cho rằng cuộc cải tổ của Thánh Têrêsa đã giúp bảo vệ Hội Thánh Tây Ban Nha khỏi làn sóng càn quét nguy hiểm của cải cách Tin Lành. Nhờ đó, Tây Ban Nha còn hiệp thông vững vàng với Hội Thánh Hoàn Vũ. Tương tự thế, trước nguy cơ rạn nứt chia rẽ, Pháp, Ý và miền Nam nước Đức là những quốc gia mà Têrêsa có một tình cảm đặc biệt, vẫn còn trung thành với Giáo Hội Công Giáo.[12]
Một trong những hoa trái quan trọng nhất của đức vâng phục chính là một đời sống cầu nguyện viên mãn. Sự vâng phục vô điều kiện đã cho phép Têrêsa trình bày các học thuyết của mình, đặc biệt là cầu nguyện, một cách vững vàng, qua đó mang lại lợi ích cho bao linh hồn và mang lại cho ngài danh hiệu “Tiến Sĩ Cầu Nguyện.”[13] Ngài tin rằng “không có con đường nào dẫn đến sự hoàn thiện cao nhất và nhanh hơn cho bằng con đường vâng phục.”[14] Ngài đã giải thích rằng: “vì trong vâng phục, chúng ta không hề làm chủ ý chí của mình nên có thể sử dụng nó một cách thuần khiết, đơn giản và hoàn toàn cho Thiên Chúa.”[15] Nhiều lần Têrêsa đã thừa nhận rằng đức vâng phục đã giúp cho ngài tiến nhanh và chắc chắn trên đường trọn lành.
Luật Dòng Cát Minh là kim chỉ nam cho cuộc đời hoàn thiện của Thánh Têrêsa. Thật vậy, trong chương đầu tiên của tu luật,[16] Thánh Alberto đã đề cao đức vâng phục như một yêu cầu tiên quyết và là nhân đức nền tảng đối với các tu sĩ. Ít ai biết rằng Thánh Têrêsa đã xây dựng toàn bộ lối sống, với mục tiêu là nên hoàn thiện, dựa trên nhân đức vâng phục. Chính hoa trái của sự thánh thiện của Thánh Têrêsa đã chứng minh cho niềm xác tín này. Nhờ sự vâng phục mà ngài đã để cho thánh ý Chúa được thực thi trọn vẹn nơi cuộc đời ngài và nhờ đó mà ngài đã đạt tới sự hoàn thiện vinh phúc.
Kết luận
Có thể nói rằng cuộc cải cách Tin Lành của Martin Luther đã tác động rất nhiều lên tư tưởng cải tổ của Thánh Têrêsa, đặc biệt lên tư tưởng của ngài về đức vâng phục. Đây là nhân đức cần thiết để duy trì sự hiệp nhất trong Hội Thánh và là bí quyết giúp con người ta thăng tiến trên đường hoàn thiện. Từ kinh nghiệm của bản thân, Têrêsa rút ra rằng nên hoàn thiện không là gì khác hơn là để cho thánh ý Chúa được nên trọn trong cuộc đời chúng ta. Đức vâng phục cho phép chúng ta đặt thánh ý Chúa lên trên mọi ý riêng. Đức vâng phục đòi hỏi chúng ta nhận ra thánh ý Chúa ngang qua giáo huấn của những vị thay mặt Chúa.
Chúng ta, trên con đường trở nên hoàn thiện, cũng nên học theo vị Thánh Tiến Sĩ này, cam kết sống đời vâng phục, là nguồn sức mạnh và là con đường dẫn đến sự hoàn thiện và vinh quang mà Thiên Chúa dành cho con cái Người. Không ai có thể nên hoàn thiện nếu không vâng phục. Điều này đã được thể hiện rõ qua cuộc đời của Thánh Têrêsa Avila. Khởi sự đời tu với đức vâng phục, xây dựng cuộc đời dựa trên nhân đức vâng phục, Thánh Têrêsa cũng đã kết thúc cuộc đời ấy, trong sự hoàn thiện, với đức vâng phục. Đến cuối đời, thánh nữ cảm thấy tự hào khi thưa với Chúa: “Lạy Chúa, cuối cùng con vẫn là ái nữ của Hội Thánh.”[17] Cảm thấy tự hào và hạnh phúc vì còn được hiệp thông với Hội Thánh Chúa Kitô là bằng chứng hùng hồn nhất cho một tâm hồn khiêm tốn luôn luôn sống phục tùng.
[1] X. St. Teresa of Avila, Book of the Foundation (London: T. Jones, 63, Paternoster Row, 1853), tr.28.
[2] X. St. Teresa of Avila, Book of the Foundation (London: T. Jones, 63, Paternoster Row, 1853), tr. v.
[3] X. Thomas Lindsay, A History of The Reformation, vol. I, 2 vols. (Edinburgh, Scotland: International Theological Library, 1906), tr. 24.
[4] Ngày 15 tháng 6 năm 1520, Đức Giáo Hoàng Leo X công bố sắc chỉ “Exsurge Domine” cảnh cáo ra vạ tuyệt thông cho Luther nếu ông không thu hồi 41 khẳng định các bút tích của mình, bao gồm cả 95 luận thuyết, nội trong vòng 60 ngày.
[5] St. Teresa of Avila, The Way of Perfection (Grand Rapids, MI: Christian Classics Ethereal Library, 1964), tr.77.
[6] X.Raquel Trillia, Reading and Rhetoric in Teresa of Avila’s Libro de La Vida (University of Toronto, 2003), tr. 149-150.
[7] X. Lm. Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Hoàn Vũ (Sài Gòn: NXB Chân Lý, 1972), tr. 421. (Cho rằng con người được công-chính-hóa bằng nguyên đức tin, nên người Tin lành không cầu khẩn các thánh và coi các bí tích là không cần. Nhưng Luther vẫn giữ lại ba bí tích: Rửa tội, Hòa giải và Thánh Thể. Về Hòa giải, Luther bỏ việc xưng tội, cũng không nói đến sự ăn năn hối cải và đền tội; ông chỉ dạy làm một tác động “vươn mình lên” với Chúa và khiêm nhường nhận lỗi. Về phép Thánh Thể, Tin lành không công nhận Thánh Lễ là một Hiến tế và phủ nhận sự “biến thể” (transsubstantiation), nhưng chủ trương “lưỡng thể đồng tại” (impanation, consubstantiation), nghĩa là trong Thánh Thể cùng một lúc có bánh rượu và Chúa Kitô, bánh rượu là dấu chỉ (signes visibles) sự hiện diện Chúa Kitô.)
[8] X. Raquel Trillia, Reading and Rhetoric in Teresa of Avila’s Libro de La Vida (University of Toronto, 2003), tr.145.
[9] St. Teresa of Avila, The Life of St. Teresa of Jesus (London: Thomas Baker, 1904), tr. 289.
[10] St. Teresa of Avila, The Way of Perfection (Grand Rapids, MI: Christian Classics Ethereal Library, 1964), tr.77.
[11] St. Teresa of Avila, Book of the Foundation (London: T. Jones, 63, Paternoster Row, 1853), tr. vi.
[12] [Ghi chú của người viết] Điều này không khẳng định một cách minh nhiên rằng nhờ vào cải cách của Thánh Têrêsa mà các nước này đã được Chúa gìn giữ khỏi sự càn quét nguy hiểm của phong trào cải cách Tin Lành.
[13] X. Carlos Eire, The Life of Saint Teresa of Avila: A Biography (Princeton University Press, 2019), tr.219.
[14] St. Teresa of Avila, Book of the Foundation (London: T. Jones, 63, Paternoster Row, 1853), tr. 27-28.
[15] Ibid, tr. 28.
[16] Đây là Chương 4 trong luật Dòng, vì ba chương đầu chỉ là lời chào của Thánh Alberto nên đây được xem là chương đầu.
[17] Kierran Kavanaugh, The Collected Works of St. Teresa of Avila (Washington D.C: ICS Publications 2131, 1985), tr. 86.
Hồng Sơn
Dòng Cát Minh Việt Nam Sống Trung Thành Theo Đức Kitô